Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Tư, Tháng Sáu 19

Các thay đổi của nghị định 148/2018/NĐ-CP

Theo dự kiến, Nghị định 148/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 05/2015/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 148) sẽ có hiệu lực từ ngày 15/12/2018. Theo đó, Nghị định 148 nêu ra một số điểm mới mà người lao động và người sử dụng lao động cần phải biết:

Bổ sung người có thẩm quyền ký kết hợp đồng

c) Người được các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân ủy quyền làm người đại diện theo quy định của pháp luật;

Nghị định 148 bổ sung thêm chủ thể có thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động là người được ủy quyền bằng văn bản bởi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có tư cách pháp nhân (gọi chung là người sử dụng lao động) thay vì chỉ người sử dụng lao động như trước đây.

Bổ sung thêm các căn cứ thực hiện chế độ nâng bậc, nâng lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong hợp đồng lao động

Chế độ nâng bậc, nâng lương: Bổ sung trường hợp hai bên giao kết HĐLĐ có thể thỏa thuận thực hiện theo quy chế của NSDLĐ, thỏa ước lao động tập thể.

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi : Bổ sung trường hợp hai bên có thể thỏa thuận thực hiện theo nội quy lao động, quy chế của NSDLĐ, thỏa ước lao động tập thể và theo quy định của pháp luật.

Theo quy định trước đây chế độ nâng bậc, nâng lương chỉ quy định “sự thỏa thuận” của các bên nói chung, thời gian làm việc và thời giờ nghỉ ngơi phải tuân thủ các quy định của pháp luật.

Quy định mới yêu cầu ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật còn có thể thỏa thuận theo quy chế, nội quy, thỏa ước lao động tập thể, đề cao vai trò của quy chế, nội quy, thỏa ước trong doanh nghiệp.

Tính trợ cấp thôi việc không bao gồm thời gian thử việc

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (nếu có). Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ hàng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật lao động; thời gian nghỉ việc để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 129 của Bộ luật lao động.

Như vậy, thời gian thử việc đã không còn được tính là thời gia làm việc để nhận trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm. Thời gian này chỉ còn bao gồm: Thời gian người lao động đã làm việc thực tế; Thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản…

Tiền lương ngày nghỉ lễ, nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng có trả lương không căn cứ vào lương tháng trước liền kề

Tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong ngày nghỉ hằng năm tại Điều 111; ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc tại Điều 112; ngày nghỉ lễ, tết tại Điều 115 và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương tại Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với số ngày người lao động nghỉ hằng năm, nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng có hưởng lương.

Theo nghị định 05/2015/NĐ-CP, tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong những ngày nghỉ hàng năm, ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương là tiền lương tháng trước liền kề. Nhưng theo quy định mới thì tiền lương trong những ngày trên được tính:

Tiền lương =Tiền lương theo hợp đồng lao động/Số ngày làm việc bình thường trong tháng x Số ngày nghỉ

Có quy định rõ ràng về tiền lương làm căn cứ bồi thường khi chấm dứt HĐLĐ trái luật

Điều 26a. Tiền lương làm căn cứ bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Tiền lương làm căn cứ bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Khoản 5 Điều 42 hoặc Khoản 2 Điều 43 của Bộ luật lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động tại thời điểm người sử dụng lao động hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Theo quy định trước đây không giải thích rõ ràng khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì tính tiền lương làm căn cứ bồi thường áp dụng mức tiền lương ở đâu.

Thay đổi trình tự xử lý kỷ luật lao động

Theo Nghị định 148 việc xử lý kỷ luật lao động sẽ được thực hiện theo một trình tự mới như sau:

– Phát hiện người lao động vi phạm kỷ luật lao động tại thời điểm xảy ra vi phạm thì người sử dụng lao động phải lập biên bản;

– Phát hiện sau thời điểm xảy ra vi phạm, chứng minh được lỗi của người lao động và trong thời hiệu xử lý kỷ luật thì người sử dụng lao động thông báo tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật lao động; các thành phần tham dự phải xác nhận dự họp trong tối đa 03 ngày, từ ngày nhận được thông báo…

– Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên dự họp;

– Người ký hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người ra quyết định xử lý kỷ luật.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan