Liên hệ tư vấn 1900.6165
Chủ Nhật, Tháng Mười Hai 16

Các trường hợp phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định được quy định trong luật hình sự Việt Nam, đây chính là chế định thể hiện sự nhân đạo trong Bộ luật hình sự, việc áp dụng chế định này góp phần đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của công dân nhưng vẫn đáp ứng mục tiêu phòng ngừa đấu tranh tội phạm, giúp cho người phạm tội có thể được giáo dục trở thành người có ích cho xã hội.

Điều 29 Bộ luật hình sự 2015 quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như sau:

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy him cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

So với Bộ luật hình sự 1999 thì Bộ luật hình sự 2015 đã có quy định bổ sung về các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như sau:

– Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì được miễn trách nhiệm hình sự.

– Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

– Bổ sung tình tiết lập người phạm tội lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

– Bổ sung khoản 3 về những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Như vậy, quy định của Bộ luật hình sự 2015 đã có quy định cụ thể về 2 chế định là được miễn trách nhiệm hình sự và có thể miễn trách nhiệm hình sự. Nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, cơ quan tố tụng bắt buộc phải miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp có thể miễn trách nhiệm hình sự cơ quan tố tụng căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá tính chất, mức độ của sự việc và đi đến quyết định miễn trách nhiệm hình sự hay không miễn trách nhiệm hình sự cho họ. Khi thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tuy nhiên họ vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định bộ luật dân sự hoặc các quy định pháp luật khác liên quan như: buộc phải khôi phục tình trạng ban đầu, buộc phải bồi thường thiệt hại…

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan