Liên hệ tư vấn 1900.6165
Chủ Nhật, Tháng Chín 15

Cấu thành tội phạm của tội lừa đảo

Theo điều 174 Luật hình sự 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Mức phạt tối đa của tội này có thể tới 15 năm. Tuy nhiên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm sau:

Cấu thành tội phạm của tội lừa đảo

Về chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định:
– Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều này thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi.
– Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi.

Về khách thể: Xâm hại đến quan hệ về tài sản.
Nếu sau khi chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tầu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích, tổn hại đến sức khỏe người khác thì tùy từng trường hợp người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội giết người hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.

Về mặt khách quan:

  • Hành vi: Chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội phạm khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau:
    • Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên;
    • Gây hậu quả nghiêm trọng
    • Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;
    • Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích

Hành vi phạm tội của tội lùa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau: Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi lừa dối:

  • Hành vi lừa dối là cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật. Hành vi lừa dối ở đây nhằm mục đích thực hiện việc chiếm đoạt tài sản, những hành vi nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải hành vi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Hành vi chiếm đoạt có hai hình thức: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối.
  • Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)

Ngoại lệ: Tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính… thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội

Mặt chủ quan của tội phạm
– Lỗi cố ý
– Mục đích: chiếm đoạt tài sản; thực hiện được thủ đoạn gian dối (mong muốn người khác tin mình)

Người phạm tội phải chịu một trong các mức hình phạt như sau:
– Khung cơ bản: Phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
– Khung tăng nặng: khi có các dấu hiệu ở khung tăng nặng tại khoản 2, người phạm tội bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, tại khoản 3 phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, tại khoản 4 phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan