Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Nhằm tránh xảy ra các tranh chấp về tài sản sau khi quan hệ hôn nhân phát sinh, hai bên kết hôn có thể thỏa thuận về chế độ tài sản. Vậy chế độ tài sản này ra sao? Bài viết này của AZLAW sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Tại điều 47 Luật hôn nhân gia đình có quy định:

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Theo đó, để lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận:

Thứ nhất, hai bên cần thỏa thuận với nhau về việc lựa chọn chế độ tài sản trước khi kết hôn. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

– Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng. Việc xác định tài sản vợ chồng có thể thỏa thuận theo một trong các nội dung sau:

  • Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
  • Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
  • Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
  • Theo thỏa thuận khác của vợ chồng

– Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình.
– Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản.
– Nội dung khác có liên quan.

Lưu ý: mặc dù các bên có thể thỏa thuận nhưng những thỏa thuận này cũng không được vi phạm quy định pháp luật. Ngoài ra,đối với những vấn đề mà hai bên chưa thỏa thuận hoặc thỏa thuận chưa rõ ràng sẽ được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân gia đình và những quy định khác liên quan.

Thứ hai, hình thức của thỏa thuận. Thỏa thuận này cần phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có thể thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung thỏa thuận đã lập trước đó. Việc sửa đổi, bổ sung phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

Thứ ba, thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận sẽ được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn. Trường hợp có sửa đổi, bổ sung thỏa thuận thì thỏa thuận có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực.

Lưu ý: Khi vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản trường hợp có giao dịch với người thứ ba thì phải cung cấp cho họ biết về những thông tin liên quan. Nếu vợ, chồng không thực hiện nghĩa vụ này thì bên thứ ba sẽ được coi là ngay tình. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác