Liên hệ tư vấn 1900.6165

Giải quyết tranh chấp đất đai hộ gia đình

Gia đình tôi được nhà nước cấp 600m2 đất nông nghiệp, người đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Hộ bà Nguyễn Thị A (bà nội tôi). Nay bà muốn cắt 1 nửa diện tích đất nông nghiệp đã nêu trên cho một người cháu trai (không có trong sổ hộ khẩu gia đình tôi). Trong khi đó, 4/5 thành viên của gia đình tôi không đồng ý, đồng thời vào năm 2012, gia đình tôi đã đăng kí đo chỉnh lí để chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất thổ cư, hiện nay diện tích đất nông nghiệp nêu trên là 540m2 và được tách làm 3 thửa. Vậy việc làm này có đúng hay không, có thể thực hiện được hay không và có thể dựa vào những điều luật nào để giữ nguyên được mảnh đất đó. Xin cảm ơn và mong nhận được sự hồi đáp của luật sư!

Trả lời

Chào bạn! Về vấn đề này của bạn chúng tôi có ý kiến như sau: 

Đầu tiên, Quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình nên việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải tuân theo quy định tại Ðiều 212 Bộ luật dân sự 2015 về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình:

Điều 212. Sở hữu chung của các thành viên gia đình

1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.

Theo quy định trên, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên trong hộ gia đình. Hiện nay, việc xác định chủ sở hữu tài sản chung của hộ gia đình được dựa trên căn cứ là “Sổ hộ khẩu” của gia đình. Theo đó, những thành viên có tên trong sổ hộ khẩu gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền đất mang tên “Hộ gia đình” sẽ là những người có quyền sở hữu/sử dụng chung tài sản đó.

Thứ hai, Căn cứ trên các thông tin bạn đưa ra, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình, bà A và các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu cũng là một trong các đồng chủ sử dụng thửa đất đó. Việc thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình (chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp…) được quy định tại Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai cụ thể:

Điều 64. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

1. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên.

2. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư.

Như vậy, nếu không có sự đồng ý của 4 thành viên còn lại thì bà A chỉ có thể tặng cho được tối đa là 1/5 mảnh đất đó. Do vậy nếu 4/5 thành viên không đồng ý thì có thể không ký tên vào hợp đồng tặng cho để đảm bảo quyền lợi của mình.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165