Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Ba, Tháng Mười Một 19

Hậu quả khi trốn đóng bảo hiểm cho người lao động

Trước đây, việc bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động chỉ áp dụng đối với trường hợp, hợp đồng lao động ký kết có thời hạn từ 3 tháng trở lên. Từ ngày 1/1/2018, quy định về tham gia bảo hiểm xã hội trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 có hiệu lực, tất cả các trường hợp ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 tháng trở lên người sử dụng lao động đều phải tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động. Trường hợp người lao động vi phạm quy định về tham gia bảo hiểm xã hội có thể bị xử lý như sau:

Xử phạt vi phạm hành chính

Đối với trường hợp không tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động, người sử dụng lao động có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 3, Điều 26, Nghị định 95/2013/NĐ-CP. Theo đó mức xử phạt hành chính sẽ là:

3. Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Ngoài mức xử phạt hành chính như trên, người sử dụng lao động  sẽ phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả:
– Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội chưa đóng
– Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm

Truy cứu trách nhiệm hình sự

Bộ Luật hình sự 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 đã hình sự hóa vấn đề trốn đóng bảo hiểm xã hội. Do đó, kể từ ngày 01/01/2017 nếu trốn đóng bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 216, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;
d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;
c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

Như vậy người sử dụng lao động sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế khi có các yếu tố sau:
– Người sử dụng lao động có hành vi gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên.
– Đã bị xử phạt hành chính về việc không tham gia bảo hiểm xã hội

Hiện tại Bộ luật hình sự năm 2015 đã có chế tài quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Vì vậy, doanh nghiệp vi phạm, doanh nghiệp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165