Liên hệ tư vấn 1900.6165
Chủ Nhật (05/07/2020)

Hỏi về việc cấp sổ đỏ trái luật

Gia đình Nội tôi có 6 người con, ban đầu sổ đỏ là do ông nội tôi đứng tên, năm 1995 ông bà Nội tôi mất không để lại di chúc cho ai, cô thứ 5 tôi lấy và giữ sổ đỏ. Sau 1 thời gian thì cô tôi báo rằng mất sỏ đỏ do ông nội tôi để lại cô kêu tất cả anh em lên ký tên làm lại sổ mới (ba tôi không biết chữ) và người cô 2 chưa ký tên nhưng xã vẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cô 5. Vài năm sau, cô đập bỏ nhà ông bà nội bán đi miếng đất đó và tiếp bán thêm miếng đất rẫy 1 mẫu rưỡi nhưng không chia tiền cho bất cứ anh em nào hết vào khoảng 8 năm gần đây cô lại muốn đuổi ba tôi đi (ba tôi là người con thứ 6) để tiếp tục bán đất thì lúc đó ba tôi mới biết rằng sổ đỏ do cô 5 đứng tên, cô 5 khởi kiện ba tôi bắt buộc ba tôi phải di dời trả lại đất cho cô. Khi Tòa án xét xử sơ thẩm tòa tuyên án ba tôi thua và bắt buộc ba tôi phải di dời. Vậy quý luật sư cho tôi hỏi xã cấp quyền sử dụng đất cho cô 5 tôi như vậy có hợp lý hay không? Nếu giờ tôi tìm ra sổ đỏ của ông nội lúc xưa để lại thì việc đó có lợi gì cho ba tôi hay không? Rất mong được sự giải đáp thắc mắc từ phía luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin đưa ra tư vấn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì:

“Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”.

Như vậy, có thể thấy UBND cấp xã không có thẩm quyền cấp sổ đỏ, thẩm quyền cấp sổ đỏ ở đây là thuộc về UBND cấp huyện. Do vậy bạn nên xem xét lại xem ở đây cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cô bạn là cơ quan nào. Nếu như UBND xã là cơ quan cấp như thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó đã bị cấp sai thẩm quyền.

Bên cạnh đó, ta còn thấy rằng quyền sử dụng đất mà cô Tư của bạn đang sở hữu là tài sản của công Nội bạn để lại. Ông Nội bạn mất đi không để lại di chúc thì quyền sử dụng đất nêu trên sẽ được coi là di sản thừa kế mà ông bạn để lại, và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất trong đó có bố bạn và cô Hai đều là đồng sở hữu quyền sử dụng đất này. Tuy nhiên trong quá trình cấp sổ đỏ không có chữ ký và sự đồng ý của bố bạn trong biên bản phân chia di sản thừa kế thì không thể sang tên quyền sử dụng đất cho cô Tư được.

Qua phân tích ở trên ta thấy rằng, nếu đúng như thông tin bạn cung cấp UBND xã là cơ quan cấp sổ đỏ; khi cấp sổ đỏ không có chữ ký của cô Hai và sự đồng ý của bố bạn trong văn bản phân chia di sản thừa kế thì việc cấp sổ đỏ cho cô Tư bạn là hoàn toàn trái pháp luật.

Căn cứ theo Mục 2.4 Phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao thì:

“. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế trong trường hợp sau:

… Sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”

Theo quy định trên nếu như gia đình bạn còn các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất đang đứng tên cô Tư là của ông Nội bạn thì bố bạn và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nội bạn đều có quyền khởi kiện chia tài sản chung mà pháp luật không giới hạn thời hiệu khởi kiện. Do đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, những người có quyền lợi liên quan không khởi kiện, nên quyền sử dụng đất nói trên đã trở thành tài sản đồng sở hữu của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nội bạn. Nếu gia đình bạn tìm lại được bản gốc sổ đỏ đứng tên ông Nội bạn thì cũng là một chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất này là di sản thừa kế ông Nội bạn để lại.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165