Liên hệ tư vấn 1900.6165

Làm gì khi mua phải tài sản do phạm tội mà có?

Đợt vừa rồi tôi co mua lai một chiếc điện thoại cũ tại cửa hàng mua bán điện thoại cũ với giá 8 triệu. Sử dụng được hơn 2 tuần, tôi lại rao bán chiếc điện thoại này trên mạng. Vài ngày sau có người đến gặp tôi và bảo điện thoại mà tôi rao bán là của họ, bị trộm mất lúc đi trên đường cách đây 3 tháng. Họ yêu cầu tôi phải trả lại điện thoại cho họ, không thì sẽ báo công an. Lúc mua tôi không hề biết đây là điện thoại do phạm tội mà có. Vậy tôi có phải trả lại điện thoại cho họ không? Nếu trả lại thì tôi phải đòi tiền từ ai? Trường hợp họ không trả lại tiền cho tôi thì tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

Trả lời

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến AZLAW. Với trường hợp của bạn,tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

Thứ nhất: Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015:

Điều 167. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình:

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Như vậy, người chủ sở hữu hợp pháp hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản là chiếc điện thoại này.Và bạn sẽ phải trả lại điện thoại cho họ.

Thứ hai, đối với giao dịch giữa bạn và cửa hàng bán điện thoại:

Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự có quy định:

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Theo Điều 122 Bộ luật dân sự 2015, khi giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 nêu trên thì vô hiệu.

Và khi giao dịch dân sự vô hiệu thì theo quy định tại Điều 131 BLDS 2015 các bên sẽ phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường……

Như vậy, Đối chiếu với các quy định trên thì việc chủ cửa hàng bán cho bạn chiếc điện thoại cũ – tang vật của một vụ cướp là đã vi phạm điều cấm của pháp luật. Do vậy, việc mua bán đương nhiên bị vô hiệu. Chủ cửa hàng phải trả lại số tiền bạn đã bỏ ra để mua chiếc điện thoại đó do bạn hoàn toàn không biết chiếc điện thoại này là do phạm tội mà có và đối vơi loại tài sản này bạn không bắt buộc phải biết nguồn gốc của nó. Trường hợp người bán không đồng ý trả lại tiền cho bạn thì bạn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền nơi người bán cư trú để yêu cầu hoàn trả lại tiền mua điện thoại đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu có. Trên cơ sở đó, tòa án xem xét giải quyết tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, hai bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Còn về phía bên cửa hàng bán điện thoại, trong trường chủ cửa hàng không biết chiếc điện thoại đó là tang vật của một vụ cướp giật thì cũng tương tự như trường hợp của bạn, có quyền yêu cầu người đã bán chiếc điện thoại hoàn trả lại số tiền đã thanh toán.

Còn trường hợp người chủ cửa hàng biết rõ chiếc điện thoại đó là tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn mua thì hành vi này có dấu hiệu phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 323 BLHS 2015: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…..”

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165