Liên hệ tư vấn 1900.6165

Lừa dối mượn tiền nhưng không chịu trả, phải làm thế nào?

Em có cho một người bạn gần nhà mượn 3 triệu đồng và hứa sẽ trả sau 1 tháng nữa để chi trả viện phí cho bạn của bạn đó bị tai nạn giao thông. Nhưng sau đó em mới biết là người đó nói dối vay tiền để đi du lịch. Sau khi biết được sự việc, em có đòi lại tiền nhưng người này không trả. Ngoài ra, người này còn không về nhà, khóa máy, chặn cuộc gọi và không dùng số điện thoại cũ để em không thể liên lạc được. Khi cho mượn tiền em không có ghi âm hay giấy tờ gì, nhưng trong quá trình đòi tiền em có ghi âm lại nội dung người bạn này nợ em số tiền trên. Xin hỏi, trường hợp này, em phải làm gì để đòi lại được số tiền và người bạn đó có phải chịu tội gì không?

Trả lời

Theo quy định tại điều Điều 400 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về thời điểm giao kết hợp đồng dân sự thì : “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.”

Trong trường hợp của bạn là hợp đồng vay tài sản theo điều 463 của luật này, pháp luật không yêu cầu phải giao kết bằng một hình thức nhất định vì vậy khi cho vay 2 bên đã giao kết bằng lời nói , hợp đồng này có giá trị pháp luật . Do đó, để được giải quyết bạn có thể khởi kiện dân sự ra Tòa án nơi bị đơn cư trú để yêu cầu giải quyết .

Hồ sơ khởi kiện bao gồm :

  • Đơn khởi kiện.
  • Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn;
  • Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện;
  • Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có).
  • Bằng chứng tài liệu chứng cứ liên quan.
  • Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Cũng căn cứ theo các quy định tại Điều 174 và Điều 175 của Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì:

Nếu ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt chỉ cần từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Với những thông tin mà bạn đưa ra như trên, thì hành vi mà bạn của bạn thực hiện sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, nếu không làm đơn khởi kiện ra tòa bạn có thể gửi đơn tố cáo kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan như đoạn ghi âm đến cơ quan công an để được giải quyết.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165