Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Bảy, Tháng Mười Hai 14

Mức phạt đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trong các dịp lễ hội đầu xuân mọi người thường đi cầu may mắn, bình an trong cả năm nhưng đây cũng chính là thời gian để cho các tệ nạn trộm cắp, lừa đảo tài sản và nhiều tệ nạn xã hội khác diễn ra nhiều. Lừa đảo chính là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật. Đối với hành vi này pháp luật có quy định xử phạt như thế nào? Tùy thuộc vào mức độ của hành vi lừa đảo mà người thực hiện hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự.

Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lừa đảo

Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP có quy định như sau:
– Phạt tiền từ 1.000.000 đồng tới 2.000.000 đồng đối với hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác. Bên cạnh hình thức phạt tiền người thực hiện hành vi còn bị áp dụng hình thức xử phat bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
– Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản. Ngoài ra, người thực hiện hành vi còn bị tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm hành chính; gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác

Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm là người nước ngoài, tùy theo mức độ vi phạm mà người này có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xử lý hình sự tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Ngoài ra, người thực hiện hành vi lừa đảo có thể bị truy cứu về trách nhiệm hình sự như  tại điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý hình sự nếu:
– Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên.
– Tài sản chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau:
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm
Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội: cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Như vậy, về cơ bản hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý vi phạm hành chính nếu giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng nếu thuộc một trong các trường hợp trên thì người thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị xử lý hình sự về tội này.

Cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Chủ thể của tội phạm: người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự từ 16 tuổi trở lên
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Quyền sở hữu tài sản của công dân
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.
Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi ở đây được xác định là lỗi cố ý; mục đích chiếm đoạt tài sản thực hiện thủ đoạn gian dối.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165