Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Ba, Tháng Mười Một 19

Nguyên tắc phân chia tài sản chung khi ly hôn

Phân chia tài sản khi ly hôn là vấn đề quan trọng trong giải quyết ly hôn. Đây thường là vấn đề mà các bên tranh chấp, không thể tự thỏa thuận được. Hiện tại phân chia tài sản chung khi ly hôn được quy định trọng Luật hôn nhân gia đình năm 2014, thông tư liên tịch Số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của luật hôn nhân và gia đình. Dưới đây là những tư vấn, lưu ý của AZLAW về phân chia tài sản khi ly hôn theo pháp luật hiện hành.

Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Theo quy định tại điều 213, Bộ luật Dân sự năm 2015:

Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng
1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.
5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.

Điều 59, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thỏa thuận được thì một trong hai bên hoặc cả hai yêu cầu Toà án giải quyết. Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, tài sản riêng của vợ, chồng không được phân chia, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Như vậy việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn luôn luôn ưu tiên, tôn trọng sự phân chia tài sản của vợ chồng, nếu vợ chồng không tự phân chia, thỏa thuận được Tòa án mới là cơ quan có thẩm quyền  để giải quyết.

Lưu ý phân chia tài sản chung khi ly hôn

Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, khi giải quyết phân chia tài sản. Tòa án căn cứ vào các yếu tố sau:
– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ngoài ra Khoản 4, điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP cũng quy định về vấn đề trên. Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó sẽ được thanh toán, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165