Liên hệ tư vấn 1900.6165

Phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Do đó khi vợ chồng ly hôn không chỉ ảnh hưởng tới gia đình họ mà còn ảnh hưởng tới xã hội. Nhằm đề cao vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân với gia đình, và bảo vệ quyền lợi của mỗi thành viên trong gia đình, Luật Hôn nhân gia đình đã đưa ra những quy định cụ thể về việc này, đặc biệt là về việc phân chia tài sản.

Phân chia tài sản trước hết sẽ dựa theo sự thỏa thuận của các bên

Việc thỏa thuận của các bên có thể thực hiện trong thời kỳ hôn nhân hoặc thỏa thuận tại thời điểm hai bên ly hôn.

– Trong thời kỳ hôn nhân các bên có thể thỏa thuận việc phân chia tài sản, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản. Văn bản có công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu các bên, hoặc theo quy định pháp luật. Khi giải quyết ly hôn Tòa án giải quyết phân chia theo thỏa thuận nếu: các bên có thỏa thuận và thỏa thuận này không bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ.

– Thỏa thuận tại thời điểm ly hôn: Nhằm đảm bảo ý chí các bên, khi giải quyết ly hôn các bên có thể tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản mà không cần đến sự phân xử của Tòa án.

Phân chia tài sản dựa theo quy định của pháp luật

Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định:

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

– Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính tới những yếu tố sau:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng. Đó là năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng, của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng… Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.
  • Công sức đóng góp về tài sản, thu nhập, công việc gia đình, lao động của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Trường hợp người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. Nếu vợ, chồng sử dụng tài sản thực hiện sản xuất kinh doanh thì khi chia tài sản phải đảm bảo cho vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh có thể tiếp tục hành nghề nhưng không ảnh hưởng tới điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng, con mất năng lực hành vi dân sự, con chưa thành niên. Bên vẫn tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh phải thanh toán phần giá trị chênh lệch cho bên kia.
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng về nhân thân và tài sản đến dẫn đến ly hôn.

– Khi thực hiện phân chia tài sản Tòa án cũng xem xét để bảo vệ quyền lợi ích cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động để tự nuôi bản thân.

– Giá trị tài sản chung được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

– Tài sản của vợ chồng trong tài sản chung của gia đình: tài sản xác của vợ chồng xác định được trong khối tài sản chung của gia đình thì được chia như trên. Nếu không xác định được tài sản của vợ chồng trong khối tài sản đó thì vợ, chồng được chia một phần từ tài sản chung đó dựa vào công sức đóng góp. Việc chia một phần này do thỏa thuận của vợ chồng với gia đình, không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Tài sản riêng của bên nào khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó

Lưu ý: Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165