Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Năm (02/04/2020)

Quy định về che giấu tội phạm theo luật hình sự

Trên thực tế, chúng ta vẫn thường thấy  cùng là hành vi không tố cáo người phạm tội với cơ quan công an nhưng có người che giấu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm, nhưng có người cũng là che giấu, không tố cáo người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền. Vậy thế nào được coi là che giấu tội phạm? Người có hành vi che giấy tội phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào? Che giấu tội phạm được quy định tại Điều 18, Bộ Luật hình sự năm 2015 như sau:

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2.Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Theo quy định trên, hành vi che giấu tội phạm được hiểu là một cá nhân nào đó không có hẹn trước với người phạm tội, khi tội phạm xảy ra người này đã cố tình che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của vụ án hoặc gây khó khăn cho cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy một hành vi được coi là che giấu tội phạm phải có dấu hiệu sau: Người che giấu tội phạm không hẹn trước, thỏa thuận với người tội phạm về việc che giấu tội phạm. Nếu người che giấu tội phạm hẹn trước với người phạm tội về việc người này sẽ giúp đỡ người kia xóa dấu tích, phi tang vật chứng….để người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người che giấu tội phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm mà người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đồng phạm, là người giúp sức cho người phạm tội theo Điều 17, Bộ Luật hình sự năm 2015.

Tuy nhiên khi quy định về tội tố giác tội phạm, các nhà làm luật cũng tính đến các quan hệ xã hội như quan hệ về mặt đạo đức giữa vợ -chồng, cha-con; anh-em… Do vậy nếu người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự  về tội che giấu tội phạm. Nhưng đối với những tội có tính chất nguy hiểm cao, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia như nhóm tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia, tội phạm rất nghiêm trọng  bắt buộc những người che giấu tội phạm trên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165