Liên hệ tư vấn 1900.6165

Rút vốn khỏi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình công ty thường thấy trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Đây là loại hình kinh doanh chủ yếu dựa trên sự tin tưởng của các cá nhân khi tham gia góp vốn. Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp một trong các thành viên muốn rút vốn ra khỏi công ty. Việc rút vốn trong công ty được thực hiện như thế nào? Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên việc rút vốn có thể thực hiện bằng thỏa thuận hoặc khởi kiện để thực hiện rút vốn

Rút vốn theo thỏa thuận

Khoản 2 điều 51 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN) quy định về nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH 2 TV trở lên thì: “…Không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các điều 52, 53, 54 và 68 của Luật này”. Như vậy, thành viên chỉ được rút vốn trong các trường hợp:

  • Công ty mua lại phần vốn (điều 52)
  • Chuyển nhượng phần vốn góp (Điều 53)
  • Rút vốn bằng cách mang vốn góp đi trả nợ (Điều 54)
  • Rút vốn bằng cách tặng cho;
  • Công ty giảm vốn điều lệ. (Điều 68)

Với những cách rút vốn khác nhau, LDN cũng quy định khác nhau: Công ty mua lại phần vốn (căn cứ Điều 52 LDN): Trường hợp rút vốn bằng cách yêu cầu công ty mua lại phần vốn chỉ được thực hiện nếu thành viên bỏ phiếu không tán thành đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau đây:

a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;

b) Tổ chức lại công ty;

c) Các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty.

Yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên phải thể hiện bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua quyết định vấn đề quy định tại các điểm a, b và c nói trên. Khi có yêu cầu của thành viên, nếu không thoả thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

Nếu công ty không mua lại phần vốn góp thì thành viên có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên.

Chuyển nhượng phần vốn góp (căn cứ Điều 53 LDN): Nếu rút vốn bằng cách chuyển nhượng phần vốn cho người khác thì thành viên phải:

a) Chào bán phần vốn đó cho thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của thành viên đó trong công ty với cùng điều kiện;

b) Nếu thành viên đó không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán thì được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên.

Rút vốn bằng cách mang vốn góp đi trả nợ: Nếu thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ (đối với vay thật) thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai cách sau đây:

a) Trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận.

b) Nếu Hội đồng thành viên không chấp thuận cho chủ nợ thành thành viên thì chủ nợ phải chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó tương tự như trường hợp rút vốn bằng cách chuyển nhượng cho người khác ở trên.

Rút vốn bằng cách tặng cho: Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác. Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty. Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận.

Công ty giảm vốn điều lệ: Theo quyết định của Hội đồng thành viên, công ty có thể giảm vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây:

a) Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm, kể từ ngày đăng ký kinh doanh; đồng thời vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên;

b) Mua lại phần vốn góp theo quy định tại Điều 52 LDN;

c) Điều chỉnh giảm mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản giảm xuống của công ty.

Khởi kiện để rút vốn

Về nguyên tắc, thành viên công ty không thể dựa vào kết quả kinh doanh thua lỗ mà yêu cầu rút vốn, bởi đầu tư là chuyện rủi ro, lời ăn lỗ chịu. Không ai có thể khẳng định mình kinh doanh có lãi được. Các căn cứ để yêu cầu rút vốn chỉ có thể dựa trên các hoạt động mang tính chất tư lợi và thiếu minh bạch của công ty gây ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của thành viên trong công ty. Trường hợp này nếu các thành viên khác của công ty không hợp tác thì người rút vốn có thể khởi kiện ra tòa án để yêu cầu rút vốn.

Tuy nhiên đây là phương án tốn nhiều công sức, thời gian và chi phí. Phương án này sẽ khởi kiện người đại diện theo pháp luật của công ty về việc không thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến việc tổ chức cuộc họp hội đồng thành viên, thực hiện báo cáo tài chính hằng năm; không minh bạch trong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, từ đây sẽ tiến hành kiểm tra toàn diện các khoản thu chi, báo cáo tài chính trong các năm hoạt động.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165