Liên hệ tư vấn 1900.6165

Tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Tôi tên là Nguyễn Đức M và vợ tôi là Lê Thu H, chúng tôi đã quyết định sử dụng tài sản chung của vợ chồng để thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Theo đăng ký thì tôi là người đứng tên sở hữu doanh nghiệp tư nhân này. Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn trả lời giúp tôi một số vấn đề như sau: Tài sản của doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của ai? Của riêng tôi hay là tài sản chung của hai vợ chồng? Lợi tức từ doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của tôi hay của cả hai vợ chồng?

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới bộ phận tư vấn pháp luật của AZLAW, về vấn đề này chúng tôi có ý kiến như sau:

Phân tích: Theo như thông tin ông M cung cấp thì trong trường hợp này hai vợ chồng ông bà  không có thỏa thuận chia  tài sản. Do đó:

Vấn đề thứ nhất: Tài sản của doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của ai?

Theo quy định Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Theo đó tài sản do vợ chồng tạo ra là tài sản chung của vợ chồng. Hơn nữa theo quy định Khoản 1 Điều 25, Khoản 1 Điều 26 và Điều 36 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì tài sản mà vợ chồng cùng đưa vào kinh doanh là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, doanh nghiệp tư nhân tuy đứng tên ông M nhưng tài sản của doanh nghiệp vẫn là tài sản chung của vợ chồng ông bà.

Vấn đề thứ hai: Lợi tức từ doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của ông M hay của vợ chồng ông bà?

Về nguyên tắc, doanh nghiệp tư nhân đứng tên ông M nên ông M là chủ sở hữa của doanh nghiệp và là tài sản riêng của ông M. Tuy nhiên, trong trường hợp này, vợ chồng ông bà  không có thỏa thuận về việc chia tài sản mà hai vợ chồng cùng thống nhất đưa tài sản chung vào thành lập doanh nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp vẫn là tài sản chung của vợ chồng ông bà dù đứng tên ông M. Cũng theo Khoản 1 Điều 33  thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ Tài sản riêng trong thời kì hôn nhân là tài sản chung. Như vậy, lợi tức thu được thuộc sở hữu của cả hai vợ chồng ông bà.

Hy vọng với nội dung tư vấn trên có thể giải đáp thắc mắc của hai bạn. Mọi vấn đề khác vui lòng liên hệ tổng đài luật sư tư vấn 1900.6165 để được tư vấn giải đáp.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165