Liên hệ tư vấn 1900.6165
Chủ Nhật (05/07/2020)

Thời điểm thẻ bảo hiểm y tế bắt đầu có giá trị sử dụng

Thông thường để xác định giá trị sử dụng của thẻ bảo hiểm y tế sẽ căn cứ vào thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc được ghi trên thẻ. Nhưng có những trường hợp do chậm cấp thẻ hoặc thẻ chưa đến tay người sử dụng thì thời điểm thẻ bảo hiểm y tế bắt đầu có giá trị sử dụng được xác định theo quy định tại khoản 10 Điều 15 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định cụ thể:

1. Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế đối với các đối tượng sau khi tham gia bảo hiểm y tế lần đầu:

  • Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức;
  • Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật;
  • Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;

Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;

  • Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng;
  • Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;
  • Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;
  • Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
  • Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
  • Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;
  • Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm;
  • Trẻ em dưới 6 tuổi;
  • Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;
  • Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;
  • Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;
  • Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này;
  • Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
  • Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;
  • Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam.

2. Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng nối tiếp với ngày hết hạn sử dụng của thẻ lần trước áp dụng đối với người tham gia bảo hiểm y tế liên tục kể từ lần thứ hai trở đi.

3. Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng sau 30 ngày, kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế áp dụng với các đối tượng sau đây khi tham gia bảo hiểm y tế kể từ ngày Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014 có hiệu lực hoặc tham gia không liên tục từ 3 tháng trở lên trong năm tài chính:

  • Người thuộc hộ gia đình cận nghèo;
  • Học sinh, sinh viên;
  • Nhóm người tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình.

4. Thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng đến ngày trẻ đủ 72 tháng tuổi đối với trẻ em dưới 6 tuổi: Trường hợp trẻ đủ 72 tháng tuổi mà chưa đến kỳ nhập học thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng đến ngày 30 tháng 9 của năm đó.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165