Liên hệ tư vấn 1900.6165
Chủ Nhật (09/08/2020)

Tư vấn chấm dứt hợp đồng cho người sử dụng lao động

Công ty P có cho công nhân A nghỉ việc vì nghỉ nhiều ngày không có phép. Sau đó, công nhân có đưa giấy khám bệnh của bệnh viện cho nghỉ 1 tuần. Khi đó, công ty có nói chuyện và cho anh A tiếp tục làm việc, nhưng anh A không đồng ý làm mà yêu cầu chốt sổ bảo hiểm. Vậy cho hỏi, công nhân không muốn tiếp tục làm việc mà lại không chịu đưa đơn xin nghỉ việc. Vậy trong trường hợp này tôi phải làm sao cho đúng luật?

Trả lời

Từ những thông tin mà bạn đưa ra, căn cứ vào các quy định của pháp luật. Xét thấy:

– Trước hết, Anh A đã nghỉ nhiều ngày không có phép, và sau khi công ty P cho nghỉ việc thì anh A có đưa giấy khám bệnh của bệnh viện cho nghỉ 1 tuần. Nếu trong trường hợp này, nếu công ty P vẫn tiếp tục thực hiện quyết định cho anh A nghỉ việc, tức là đơn phương chấm dứt hợp đồng với anh A là trái với quy định của pháp luật.

Bởi lẽ, căn cứ theo khoản 1 Điều 39 BLLĐ 2012, theo đó: người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp “người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này”. Và điểm b, khoản 1 Điều 38 BLLĐ thì quy định người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp “người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động”.

Trong trường hợp này, anh A đã nghỉ nhiều ngày liên tiếp, và có giấy xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh phải nghỉ 1 tuần, do vậy trường hợp của anh A không thuộc vào trường hợp quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 38 BLLĐ mà thuộc vào trường hợp nghỉ do ốm đau quy định tại Khoản 1 Điều 39 BLLĐ. Do vậy, nếu tiếp tục thực hiện quyết định cho nghỉ việc đối với anh A là trái với quy định của pháp luật.

Chính vì vậy, mà sau đó, việc công ty có nói chuyện và cho anh A tiếp tục làm việc là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.

– Ngoài ra, xét về việc sau khi công ty P nói chuyện và cho anh A tiếp tục làm việc, mà anh  A không đồng ý làm mà yêu cầu chốt sổ bảo hiểm. Và theo thông tin bạn đưa ra thì anh A không muốn tiếp tục làm việc, nhưng cũng không chịu đưa đơn xin nghỉ việc.

Xem xét những thông tin bạn đưa ra, thì có thể xảy ra hai trường hợp:

Trường hợp 1: nếu anh A không muốn tiếp tục làm việc, và do vậy anh A nghỉ, không đi làm

Trong trường hợp này phía công ty có thể ra quyết định kỷ luật đối với anh A vì lý do tự ý bỏ việc không có lý do, thậm chí có thể ra quyết định sa thải nếu như anh A tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng theo quy định tại khoản 3 Điều 126 BLLĐ 2012. Theo đó tại Khoản 3 Điều 126 BLLĐ quy định: người sử dụng lao động có thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải trong trường hợp “người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng. Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động”.

Trường hợp 2: Nếu anh A không muốn tiếp tục làm việc, nhưng anh A vẫn đến nơi làm việc, chỉ là không làm việc.

Trong trường hợp này, phía công ty P có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh A theo căn cứ tại điểm a, khoản 1 Điều 38 BLLĐ 2012. Theo đó: người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp “người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động”. Tuy nhiên, phía công ty cần phải lưu ý: để căn cứ vào quy định này thì “người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở”.

–  Ngoài ra, về việc yêu cầu chốt sổ bảo hiểm của anh A :

Có thể thấy, trong tình huống này, có thể chốt sổ bảo hiểm của anh A khi hợp đồng lao động giữa công ty và anh A chấm dứt. Với hai trường hợp có thể xảy ra đối với tình huống của công ty bạn nêu trên, thì dù là sa thải, hay công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh A thì về phía công ty phải chốt sổ bảo hiểm cho anh A, căn cứ theo Khoản 3 Điều 47 BLLĐ về trách nhiệm của người sử dụng lao động thì “người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động”.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi, hi vọng bạn có thể tìm được phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề của mình.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165