Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Ba, Tháng Mười Một 19

Ủy quyền đăng ký kinh doanh có cần công chứng không?

Xin hỏi làm giấy ủy quyền để thực hiện các thủ tục liên quan tới đăng ký kinh doanh như: thành lập công ty, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh có cần công chứng hay không? Khi tiến hành thực hiện thủ tục một số phòng đăng ký kinh doanh yêu cầu ủy quyền phải có công chứng? Tôi không biết yêu cầu này có đúng không? Nếu không thì tôi phải làm gì khi bị yêu cầu như vậy?

Trả lời

Theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 hiện hành và tại văn bản hướng dẫn luật doanh nghiệp 2014 là nghị định 78/2015/NĐ-CP có quy định về việc ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại điều 11 nghị định 78/2014/NĐ-CP:

Điều 11. Ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp
Trường hợp người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, khi thực hiện thủ tục, người được ủy quyền phải nộp bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này, kèm theo:
1. Bản sao hợp lệ hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp và tổ chức làm dịch vụ thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp và giấy giới thiệu của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp; hoặc
2. Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp.

Như vậy, đối với trường hợp ủy quyền cho cá nhân thì dùng “văn bản ủy quyền” còn việc ủy quyền cho tổ chức thực hiện dịch vụ đăng ký doanhn ghiệp chuyên nghiệp thì sẽ thực hiện bằng “hợp đồng cung cấp dịch vụ” và giấy giới thiệu cho nhân viên đi làm thủ tục.

Việc ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp có cần công chứng, chứng thực chữ ký hay không?

Việc ủy quyền được quy định trong bộ luật dân sự 2015 dựa trên nguyên tắc cơ bản tại khoản 2 điều 3 bộ luật này chính là thỏa thuận giữa các bên:

Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

Mặt khác quy định về hợp đồng ủy quyền tại mục 13 của chương XVI Bộ luật dân sự 2015 cũng không quy định việc lập hợp đồng ủy quyền phải có công chứng. Trong các văn bản hướng dẫn hồ sơ doanh nghiệp cũng không yêu cầu văn bản ủy quyền phải có công chứng, như vậy việc yêu cầu công chứng văn bản ủy quyền của chuyên viên thụ lý là không có cơ sở.

Nếu cá nhân nhận ủy quyền giả chữ ký của người ủy quyền thì sao?

Trên thực tế khi thực hiện thủ tục nhiều phòng đăng ký kinh doanh có thể yêu cầu ủy quyền cho cá nhân phải có công chứng và vặn ngược lại doanh nghiệp cá nhân giả chữ ký người ủy quyền thì sao? Điều này được giải quyết tại điều 4 nghị định 78/2015/NĐ-CP về nguyên tắc giải quyết thủ tục doanh nghiệp

Điều 4. Nguyên tắc áp dụng giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp
1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, chữ ký của những người đại diện theo pháp luật trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý như nhau.
2. Cơ quan đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, không chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật của doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp.
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh không giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, cổ đông của công ty với nhau hoặc với tổ chức, cá nhân khác hoặc giữa doanh nghiệp với tổ chức, cá nhân khác.

Theo quy định này, chỉ cần hồ sơ phù hợp theo yêu cầu thì phòng đăng ký kinh doanh sẽ chấp thuận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ. Trong trường hợp có vi phạm pháp luật của người thành lập doanh nghiệp thì phòng đăng ký kinh doanh không phải chịu trách nhiệm. Điều này sẽ là trách nhiệm của cơ quan điều tra (công an) khi xảy ra tranh chấp.

Mới đây, chính phú đã ban hành nghị định 108/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/10/2018 sửa đổi nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định rõ: “Văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Văn bản này không bắt buộc phải công chứng, chứng thực”.

Xem thêm:
Uỷ quyền đăng ký kinh doanh cho cá nhân
Uỷ quyền đăng ký kinh doanh cho tổ chức

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165