Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Ba, Tháng Mười Một 19

Ủy quyền thanh toán qua bên thứ ba trong giao dịch

Hiện tại em đang làm kế toán cho 2 công ty tạm gọi là A và B, sếp của hai công ty này là bạn của nhau. Trên một số giấy tờ hợp đồng giao dịch là của công ty A nhưng công ty B lại đứng ra thanh toán, nhận tiền giúp. Trên hợp đồng cũng đã ghi về việc thanh toán qua bên thứ ba nhưng em muốn hỏi việc thanh toán như vậy có trái với quy định của luật hay không? Nếu không xin AZLAW trích dẫn căn cứ để em có cơ sở nếu phải giải trình.

Trả lời

Việc thanh toán qua bên thứ ba như vậy do các bên thỏa thuận, bản chất việc thanh toán đó không trái với quy định pháp luật dân sự của Việt Nam. Tuy nhiên một số quy định về thuế cũng có nói về việc này.

Tại điểm c khoản 4 điều 15 thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế giá trị gia tăng:

Điều 15.Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
4. Các trường họp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm:
c) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo ủy quyền hoặc thanh toán cho bên thử ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

Như vậy theo quy định trên thì các khoản thanh toán qua bên thứ ba đều có thể được công nhân tuy nhiên bắt buộc phải quy định rõ trong hợp đồng giữa bên mua và bên bán. Ngoài ra đối tượng bên thứ ba ở đây cũng phải có tư cách pháp nhân hoặc năng lực hành vi dân sự một cách đầy đủ.

Thanh toán qua bên thứ 3 có được khấu trừ thuế?

Điểm b, c Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC, đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:

Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

Theo quy đinh này thì việc thanh toán hoàn toàn hợp pháp và được khấu trừ thuế chỉ cần lưu ý với các khoản thanh toán trên 20 triệu cần có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (có thể là chuyển khoản, séc…), ở đây có thể hiểu là bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng cho bên bán. Các bên cần chứng minh việc thanh toán qua các chứng từ và hợp đồng mua bán, giao dịch

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165