Liên hệ tư vấn 1900.6165

Về việc cầm cố đất đai và thế chấp vay ngân hàng

Tôi hiện là chủ nhân của 8000 m2 đất nông nghiệp có sổ đỏ. Năm 2010 tôi có cầm cố cho bạn tôi với số tiền là 12 cây vàng 24k. Với chứng nhận là giấy viết tay. Năm 2013 tôi có làm hợp đồng vay ngân hàng với số tiền là 200 triệu đồng. Hiện giờ tôi dự định sẽ để ngân hàng thanh lý số đất của mình. Và tôi đã tính đến trường hợp xấu nhất là không thương lượng được với bạn của tôi và bạn tôi sẽ thưa tôi ra tòa. Tôi xin nhờ luật sư tư vấn cho tôi nếu ra tòa thì tôi sẽ bị khung hình phạt như thế nào?

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho AZLAW. Luật sư công ty chúng tôi có tư vấn về trường hợp của bạn như sau:

Thứ nhất, quy định về cẩm cố tài sản được quy định tại Điều 309 bộ luật dân sư 2015 :

Điều 309. Cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Việc cầm có phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính.

Người sử dụng đất có các quyền quy định tại Điều 106 Luật Đất đai 2013 về Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên không có quy định cho người sử dụng đất có quyền cầm cố quyền sử dụng đất (QSDĐ).

Đất đai là sở hữu của toàn dân, do Nhà nước quản lý, người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu với đất đai đang sử dụng (chỉ được cấp QSDĐ), nên việc cầm cố đất là không đúng pháp luật về giao dịch cầm cố theo Bộ Luật Dân sự và các quyền của Luật Đất đai quy định. Do đó, giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất của bạn với bạn của bạn là trái quy định của pháp luật, nên hợp đồng cầm cố viết tay với quyền sử dụng đất của 2 bạn là không có giá trị.

Với trường hợp cầm cố cố quyền sử dụng đất, khi có xảy ra tranh chấp, không hòa giải ở UBND xã/phường như các trường hợp tranh chấp đất đai khác, mà tòa sẽ thu thập đủ chứng cứ để đưa ra xét xử và tuyên là giao dịch dân sự vô hiệu. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

Tức là bạn phải trả lại 12 cây vàng 24K cho bạn của bạn. Bạn của bạn thì trả lại đất cho bạn. Thực tế sẽ phát sinh thêm như lãi suất của vàng, giá trị tăng thêm của đất,…

Thứ hai, về hợp đồng vay với ngân hàng?

Bản chất khi ký hợp đồng vay với ngân hàng thường bạn sẽ phải làm thủ tục thế chấp đối với quyền sử dụng đất mà bạn dang có.

Thế chấp tài sản được quy định tại Điều 317 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 317. Thế chấp tài sản

1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).

2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

Như vậy qua những phân tích trên có thể thấy giao dịch thế chấp đất là vô hiệu, như vậy nếu bạn không trả lại số tiền thì người bạn của bạn có quyền khởi kiện bạn ra tòa án để đòi lại số tiền trên. Có thể thấy bạn chỉ có nghĩa vụ dân sự, không có trách nhiệm hình sự, nên sẽ không có khung hình phạt dành cho bạn.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165