Liên hệ tư vấn 1900.6165

Xem xét yếu tố lỗi để chia tài sản chung

Anh/chị có thể tư vấn dùm em bố mẹ em đăng kí kết hôn vào năm 1989 đến bây giờ do bố em ngoại tình lại có hành vi bạo lực với mẹ nên quyết định ly hôn. Tài sản chung của hai vợ chồng có hai căn nhà, và 4 hecta rừng. Anh/chị cho em hỏi: Theo em được biết theo luật hôn nhân và gia đình được bổ sung vào năm 2014 nếu vợ/chồng ngoại tình thì sẽ được hưởng phần tài sản chung ít hơn, vậy để chứng minh được bố em ngoại tình thì cần phải có những chứng cứ gì? Hai căn nhà đều có được sau hôn nhân, một căn đứng tên cả hai vợ chồng, một căn chỉ đứng tên bố em, căn nhà này có giá trị hơn, khi ra tòa bố em nhờ các cô, chú (anh,em ruột của bố) kí vào giấy tờ để chứng minh căn nhà này là do các cô/chú xây cho bố để sau này làm nơi thờ cúng ông/bà. Mẹ em không đứng tên căn nhà, nhưng mẹ em có giấy hai vợ chồng cùng kí tên để đấu thầu lô đất xây nhà. Vậy phải cần có thêm giấy tờ gì nữa để chứng minh căn nhà là tài sản chung của vợ chồng sau hôn nhân? Còn về phần 4 hecta rừng do nhà em không có hộ khẩu tại đó nên không thể làm sổ bìa đó, nên có nhờ chú em (em của bố) là người dân vùng đứng ra để làm sổ bìa đỏ, nhưng đến giờ xã vẫn chưa cấp sổ bìa đỏ chu chú, chỉ mới xác nhận là rừng này là của chú. Khi ra tòa mẹ đòi chia đôi, bố em lại bảo rừng này là của chú không phải tài sản hai vợ chồng. Mẹ em cũng đã viết đơn kiện lên xã trình bày lý do và bảo rừng này đang tranh chấp không  được cấp sổ bài đỏ cho chú em. Vậy nếu chú em có sổ bìa đỏ thì rừng này có được tính là tài sản chung của vợ chòng không? Mẹ em có được hưởng một phần tài sản không? Và phải làm thế nào để có thể chứng ming rừng này thật sự là của chung sau khi kết hôn?

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về AZLAW! Về vấn đề của bạn chúng tôi có ý kiến như sau:

Thứ nhất, Theo quy định mới của luật hôn nhân gia đình 2014, về quy tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng phải xét yếu tố lỗi: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn có nhiều điểm mới, đó là trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì được phân chia theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, khi chia theo pháp luật thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có tính đến các yếu tố – trong đó có điểm mới là căn cứ vào yếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (khoản 2 mục d điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014).

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo đó, đối với các trường hợp một bên vợ, chồng không chăm lo làm ăn, cố tình phá tán tài sản, cờ bạc, rượu chè, hút sách, gây nợ nần…, có hành vi ngoại tình, vi phạm chế độ một vợ một chồng, bòn rút tiền của gia đình cho nhân tình; có hành vi bạo lực gia đình, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm… sẽ được tòa án xem xét trong việc phân chia tài sản, theo hướng người nào có lỗi, lỗi nhiều hơn sẽ nhận được tài sản ít hơn. Có như vậy mới bảo đảm sự công bằng đối với người chuyên tâm lo làm ăn xây dựng gia đình, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình

Thứ hai, về quy định về tài sản chung của vợ chồng được tại điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 đối với các trường hợp tài sản hình thành trong qua trình hôn nhân được coi là tài sản chung. Như vậy đối với căn nhà đứng tên một mình bố bạn sẽ được coi là tài sản chung khi bố mẹ bạn ly hôn. Việc các cô, chú, bác của bạn xác nhận về cơ bản sẽ không có giá trị. Trừ một số trường hợp đặc biệt.

Thứ ba, để được chia 4 ha rừng thì mẹ bạn phải chứng minh đây là tài sản chung của hai vợ chồng, nếu chú bạn có bìa đỏ đứng tên của chú bạn như vậy theo quy định mảnh đất đó không phải là tài sản chung của bố mẹ bạn. Việc chứng minh cụ thể như nào mời bạn tham khảo hai bài viết về chứng minh, chứng cứ đã trích dẫn phần trên.

Hy vọng với nội dung tư vấn trên sẽ giúp bạn giải đáp một số vấn đề còn chưa rõ, mọi thắc mắc bạn vui lòng liên hệ tổng đài luật sư tư vấn miễn phí 1900.6165 để được trợ giúp.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165