Liên hệ tư vấn 1900.6165
Chủ Nhật (09/08/2020)

Trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng tại CISG và luật thương mại

So sánh các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định tại CISG và LTM 2005

Giống: đều quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại và hủy hợp đồng. CISG không quy định gì về phạt vi phạm hợp đồng do có nhiều quan điểm rất khác nhau giữa các nước Civil Law và Common Law về chế tài này khiến cho việc hài hòa hóa là không thể thực hiện được.

  • Chế tài hủy hợp đồng chỉ được áp dụng khi một bên vi phạm cơ bản hợp đồng. Điều 25 của Công ước và điều 3 khoản 13 LTM 2005 đưa ra những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều thống nhất ở một điểm: vi phạm cơ bản là vi phạm gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho bên bị vi phạm, làm cho bên này không đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, CISG còn quy định một trường hợp được hủy hợp đồng, đó là khi bên vi phạm không không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn đã được gia hạn thêm (điều 49 khoản 1 và 64 khoản 1). LTM 2005 không có quy định tương ứng.
  • Về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, CISG và LTM cho phép thụ trái vi phạm lựa chọn một trong hai biện pháp: sửa chữa hay thay thế hàng hóa. LTM 2005 không có quy định gì về vấn đề này, trong khi đó, CISG lại nêu rõ, trái chủ chỉ được áp dụng biện pháp thay thế hàng hóa khi vi phạm của thụ trái cấu thành vi phạm cơ bản, còn trong các trường hợp khác chỉ trái chủ chỉ được áp dụng biện pháp sửa chữa hàng hóa, loại trừ khuyết tật của hàng hóa
  • Về bồi thường thiệt hại, luật Việt Nam và CISG đều quy định các thiệt hại được bồi thường bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng để đền bù sự thiệt hại do vi phạm. Về tính chất của thiệt hại được bồi thường, CISG nhấn mạnh đến tính có thể dự đoán trước của thiệt hại đối với bên vi phạm, còn pháp luật Việt Nam lại nhấn mạnh tính « trực tiếp » và « thực tế » (điều 302 LTM). Nguyên tắc hạn chế tổn thất đều được ghi nhận tại CISG và LTM VN2005.
  • Về các trường hợp miễn trách, CISG và pháp luật Việt Nam có cách tiếp cận tương tự khi quy định trường hợp bất khả kháng và trường hợp lỗi của bên bị vi phạm. Ngoải ra, CISG còn quy định cụ thể về việc miễn trách khi do lỗi của bên thứ ba (điều 79) trong khi pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này.

Ngoài ra, CISG còn có khá nhiều quy định chi tiết về biện pháp giảm giá hàng (điều 50), về cách áp dụng chế tài khi hợp đồng giao hàng từng phần (điều 71), về việc hủy hợp đồng ngay cả khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ (điều 72), về cách tính tiền bồi thường thiệt hại một cách cụ thể khi hợp đồng bị hủy (điều 75 và 76), về bảo quản hàng hóa đang tranh chấp (từ điều 85-điều 88).

Trong khi đó, VN còn có quy định thêm hình thức phạt vi pham nhằm ngăn ngừa những hành vi vi phạm trong tương lai. Còn CISG lại không có quy định về hình thức này, do vậy mà bên vi phạm hợp đồng không phải chịu chế tài này theo quy định của CISG.

Tóm lại, liên quan đến các chế tài do vi phạm hợp đồng mà CISG và pháp luật Việt Nam cùng quy định, CISG có các quy định đầy đủ và cụ thể hơn so với pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, có vấn đề luật Việt Nam có quy định nhưng CISG lại không quy định (như chế tài phạt) và ngược lại. Một số điểm khác biệt khác cũng cần được lưu ý, như quy định về việc thay thế hàng hóa không phù hợp.

Tuy vậy, cần khẳng định là những sự khác biệt này không tạo nên mâu thuẫn đối kháng giữa CISG và pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa (bởi hai hệ thống này bổ sung cho nhau, mỗi hệ thống được áp dụng cho một loại hợp đồng riêng).

Phân tích nguyên tắc đối xử quốc gia thể hiện trong văn kiện WTO? Cho ví dụ về áp dụng đối xử QG khi VN gia nhập tổ chức thương mại thế giới?

Nguyên tắc Minh bạch

  • Nguyên tắc không phân biệt đối xử (MFN&NT)
  • Nguyên tắc ưu đãi cho các nước đang phát triển

Để hướng tới và tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và có thể dự đoán trong hệ thống thương mại đa phương, WTO yêu cầu các Thành viên phải thực thi biện pháp để đảm bảo tính minh bạch trong hệ thống kinh tế cũng như thương mại của mình. Môi trường kinh doanh như vậy giúp doanh nghiệp định hướng 1 cách hiệu quả chiến lược kinh doanh trong tương lai, khích lệ họ đầu tư và nhờ đó tạo ra nhiều việc làm và góp phần nâng cao mức sống của dân cư. Nguyên tắc tăng cường tính minh bạch được thể chế hóa ở Điều X của GATT và Điều III của GATS. Để thực thi nguyên tắc này, WTO yêu cầu các thành viên phải thực thi biện pháp:

  • Đưa ra các cam kết ràng buộc khi mở cửa thị trường. Điều đó có nghĩa phải đưa ra mức trần cam kết trong đàm phán mở cửa thị trường.

Ví dụ: trong thương mại hàng hóa, một nước đàm phán mở cửa thị trường thịt bò có thể đặt cam kết ràng buộc đối với thuế nhập khẩu thịt bò là 15%. Khi cam kết mở cửa thị trường có hiệu lực, nước đó sẽ ko đc tăng thuế vượt mức đó. Trong thương mại dịch vụ, khi có cam kết mở cửa thị trường thì mức mở cửa thị trường không được thấp hơn mức hiện hành và các Thành viên không được duy trì hoặc ban hành những biện pháp hạn chế được nêu trong Điều XVI của GATS.

  • Hạn chế áp dụng hạn ngạch, các biện pháp hạn chế định lượng và những biện pháp khác có thể làm giảm tính minh bạch của môi trường kinh doanh. Thực tế của Việt Nam cũng cho thấy áp dụng hạn ngạch với cơ chế xin – cho không minh bạch dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực và cạnh tranh không công bằng.
  • Chính phủ các Thành viên phải công bố công khai và phải đảm bảo công chúng cũng như các doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể tiếp cận dễ dàng các chính sách, các qui định, luật lệ và thông tin liên quan đến ngoại thương.
  • Thành lập các cơ quan có thẩm quyền để rà soát các quyết định hành chính có ảnh hưởng đến thương mại; xem xét các yêu cầu và kiến nghị của các Thành viên khác.
  • Các Thành viên phải đảm bảo sự phù hợp giữa luật lệ và chính sách của mình với các hiệp định của WTO. Đây là một nghĩa vụ pháp lý của các Thành viên. “Mỗi Thành viên phải bảo đảm sự phủ hợp của các luật, các chính sách và thủ tục hành chính của mình với các nghĩa vụ được quy định tại các hiệp định ở phần phụ lục” (Điều XVI khoản 4 Hiệp định Marrakesh về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới).

Để đảm bảo tính minh bạch, WTO có cơ chế giám sát được đưa vào Hiệp định về Cơ chế rà soát chính sách thương mại. Theo cơ chế này, WTO yêu cầu các Thành viên phải thông báo cho WTO và các Thành viên khác những biện pháp, các chính sách hoặc luật lệ mà Chính phủ áp dụng để điều chỉnh thương mại (theo nghĩa rộng). Ngoài ra, WTO còn tiến hành rà soát theo định kỳ chính sách thương mại của các Thành viên. Bốn thực thể thương mại lớn nhất của thế giới gồm EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada bị rà soát hai năm một lần. 16 thực thể thương mại lớn tiếp theo sẽ bị rà soát bốn năm một lần. Các Thành viên còn lại bị rà soát sáu năm một lần, trừ trường hợp có thể áp dụng một thời kỳ dài hơn đối với các Thành viên kém phát triển. WTO lập ra Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại (TPRB) để thực thi công việc này. Nguyên tắc minh bạch là rất cần thiết cho việc thực thi các cam kết, cho việc trao đổi thông tin trong WTO. Ngoài ra nó còn giúp nâng cao quyền lực của WTO đối với các Thành viên. Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam cam kết đảm bảo tính minh bạch của những biện pháp, chính sách và luật lệ của mình liên quan đến thương mại.

Nguyên tắc không phân biệt đối xử

Như đã trình bày ở phần trên, nền tảng cho sự tồn tại và vận hành của WTO là hệ thống các hiệp định. Các hiệp định này có dung lượng rất lớn và bao trùm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ thương mại hàng hóa tới thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các qui tắc giải quyết tranh chấp và ràbsoát chính sách thương mại. Tuy nhiên, có những nguyên tắc chungbxuyên suốt toàn bộ các hiệp định đó và những nguyên tắc này là các trụ cột của hệ thống thương mại đa phương. Các nguyên tắc đó gồm:

Nguyên tắc không phân biệt đối xử được thực hiện thông qua hai chế độ. Đó là chế độ đối xử tối huệ quốc và chế độ đối xử quốc gia.

  • Đối xử tối huệ quốc (MFN). Đối xử tối huệ quốc có nghĩa là dành sự ưu đãi như nhau cho mọi đối tác. Nói cách khác, nếu một Thành viên dành ưu đãi cho một Thành viên khác, như áp dụng mức thuế thấp cho một sản phẩm nhập khẩu nào đó, hay dành cho một sự miễn trừ nào đó, thì ngay lập tức và không điều kiện các Thành viên khác cũng sẽ được hưởng sự ưu đãi đó. Đây là nguyên tắc bao trùm mọi Hiệp định của WTO, đặc biệt nó được ghi thành điều khoản trong GATT, trong Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) và trong Hiệp định về các Khía cạnh Liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Cụ thể:

“… bất kỳ một sự ưu đãi, ưu tiên, đặc quyền hay miễn trừ mà một bên ký kết dành cho bất kỳ sản phẩm nào có xuất xứ từ hoặc được giao đến bất kỳ nước nào khác thì ngay lập tức và không điều kiện phải được dành cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hoặc được giao đến lãnh thổ của tất cả các bên ký kết khác”. (Điều I khoản 1 GATT 1947).

“Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi Thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác”. (Điều II khoản 1 GATS).

“Đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bất kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước nào khác cũng phải được ngay lập tức và không điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác”. (Điều 4 khoản 1 TRIPs).

– Đối xử quốc gia (NT). Có nghĩa là phải có sự đối xử bình đẳng giữa trong nước và nước ngoài. Chẳng hạn giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu, giữa dịch vụ do các nhà cung ứng nội địa cung cấp và dịch vụ do các công ty nước ngoài cung cấp, giữa công dân hay công ty trong nước và công dân hay công ty nước ngoài, giữa bản quyền tác phẩm của các tác giả trong nước và của các tác giả nước ngoài. Tuy nhiên Chính phủ một nước chỉ có nghĩa vụ thực thi đối xử quốc gia khi một sản phẩm, dịch vụ hay một thực thể sở hữu trí tuệ của nước ngoài thực sự gia nhập thị trường nước đó. Cũng giống như đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia là một nguyên tắc bao trùm các hiệp định của GATT và WTO. Nguyên tắc này cũng được ghi thành điều khoản ở Điều III của GATT, Điều XVII của GATS, và Điều 3 của TRIPs. Khác với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc điều chỉnh các biện pháp hạn chế mở cửa thị trường, nguyên tắc đối xử quốc gia hướng tới tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Bởi vậy, đối xử quốc gia liên quan trực tiếp tới các biện pháp, luật lệ và chính sách của Chính phủ như chính sách thuế, chính sách liên quan đến tiếp cận và sử dụng các nguồn lực trong nước, qui chế đấu thầu v.v… Đây là lĩnh vực thường bị các doanh nghiệp chỉ trích và phàn nàn nhiều nhất.

Thực tế trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã có những nỗ lực vượt bậc trong sửa đổi chính sách và pháp luật của mình để đảm bảo thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO. Đặc biệt, nguyên tắc cơ bản này của WTO được quán triệt trong Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005. Điều 4 khoản 2 của Luật khẳng định: “Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài”. Ở Điều 10, Chính phủ Việt Nam cam kết áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát. Điều 14 về “Quyền tiếp cận, sử dụng nguồn lực đầu tư”, các nhà đầu tư được “bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quĩ hỗ trợ; sử dụng đất đai và,tài nguyên theo qui định của pháp luật”. Điều 19 xác nhận quyền của đầu tư “tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công theo nguyên tắc không phân biệt đối xử”.

WTO có đưa ra một số ngoại lệ đối với nguyên tắc không phân biệt đối xử này. Các trường hợp ngoại lệ điển hình về phân biệt đối xử được GATT và các hiệp định của WTO cho phép gồm:

– Điều XIV của GATT về “Các ngoại lệ đối với qui tắc không phân biệt đối xử” cho phép phân biệt đối xử trong một số trường hợp liên quan đến áp dụng các hạn chế định lượng nhập khẩu.

– Dựa vào “điều khoản được phép” (Enabling Clause) các nước công nghiệp phát triển đã dành cho hầu hết các nước đang phát triển Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), một loại ưu đãi thông qua giảm thuế đơn phương của nước công nghiệp cho hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, không yêu cầu có đi có lại.
– Trong thương mại dịch vụ, một Thành viên có thể áp dụng một số biện pháp phân biệt đối xử được qui định trong Điều II khoản 2 của Hiệp định GATS và phù hợp với các điều kiện của Phụ lục về các miễn trừ của Điều II.

– Theo Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng, Hiệp định Chống bán phá giá, trong trường hợp diễn ra thương mại không lành mạnh từ phía nước xuất khẩu, một nước nhập khẩu có thể gia tăng các rào cản thương mại (như tăng thuế và áp dụng hạn ngạch) đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước xuất khẩu đó.

– Ngoài ra còn một số ngoại lệ khác được qui định trong các hiệp định khác nhau như cho phép áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với nhập khẩu nông sản, phân biệt đối xử trong cấp hạn ngạch dệt may trong Hiệp định Dệt may, ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển v.v…

– Qui tắc của WTO về mua sắm của Chính phủ được xem là một ngoại lệ điển hình của nguyên tắc đối xử quốc gia.

Ưu đãi các nước đang phát triển

WTO đã sớm đề ra nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) nhằm hỗ trợ các Thành viên kém phát triển, đang phát triển và cả các nền kinh tế đang chuyển đổi. Trong hầu hết các hiệp định của WTO đều đưa vào các điều khoản này với các qui định cụ thể về ưu đãi cho các Thành viên kém và đang phát triển. Nội dung các điều khoản đặc biệt này gồm:

  • Có một thời kỳ quá độ dài hơn khi thực thi các hiệp định và cam kết của WTO;
  • Có các biện pháp để gia tăng cơ hội thương mại cho các Thành viên đang phát triển;
  • Mức độ cam kết thấp hơn;
  • Được hỗ trợ về mặt kỹ thuật hoặc được hưởng một số ưu đãi khác như hỗ trợ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trong giải quyết tranh chấp, trong thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật;
  • Yêu cầu các Thành viên phải bảo vệ lợi ích của các Thành viên đang phát triển;
  • Ngoài ra còn có các điều khoản yêu cầu các nước công nghiệp dành những ưu đãi khác cho các nước kém phát triển như đơn phương miễn thuế hoặc xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu từ các nước kém phát triển.

Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư họp tại Doha đã uỷ quyền cho Uỷ ban Thương mại và phát triển giám sát việc thực thi các điều khoản về đối xử đặc biệt và khác biệt này.

Ví dụ cụ thể:

Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới, WTO. Một trong những nguyên tắc bắt buộc đối với chính sách kinh tế của các nước thành viên khi gia nhập WTO là không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế với nhau, cũng như giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, trừ những lĩnh vực ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính vì thế, trước khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã phải nội luật hóa nhiều nguyên tắc của luật pháp quốc tế bằng cách sửa đổi, bổ sung hàng loạt các luật, bộ luật của mình cho tương thích với luật pháp quốc tế. Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2005[1] là một trong những minh chứng cho điều đó. Trên nguyên tắc, hai đạo luật này đã không còn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế cũng như nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: khái niệm: điều 27 LTM, điều 1 cisg.

Đặc điểm:

Đặc điểm về chủ thể tham gia ký kết.

Chủ thể kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương là thương nhân thường có trụ sở thương mại đặt ở các quốc gia khác nhau. Thương nhân có thể là thể nhân hoặc pháp nhân. Thương nhân thường được xác định theo luật mà thương nhân đó mang quốc tịch. Nếu thể nhân muốn kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương cấn phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo luật mà họ mang quốc tịch.

Đặc điểm về đối tượng của hợp đồng mua bán ngoại thương: là hàng hoá được phép chuyển qua biên giới hoặc chuyển từ khu chế xuất vào thị trường nội địa và ngược lại theo quy định của pháp luật tức là có thể được chuyển từ nước này sang mua bán ngoại thương có thể là ngoại tệ đối với một bên, là ngoại tệ hoặc nội tệ đối với cả hai bên. Nó phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên kí kết hợp đồng: Nó có thể là đồng tiền của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc có thể là đồng tiền của nước thứ 3 miễn sao sự lựa chọn đồng tiền thanh toán đảm bảo được lợi ích của các bên tham gia kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương.

Đặc điểm về cơ quan giải quyết tranh chấp.

Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế thì các kí hợp đồng có quyền tự do thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán ngoại thương. Thông thường người ta quy định thành một điều khoản trong hợp đồng nếu không ghi họ cơ thể lựa chọn bất cứ một cơ quan trọng tài hay một toà án nào để giải quyết tranh chấp.

Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán ngoại thương.

Do hợp đồng mua bán ngoại thương là loại hợp đồng có yếu tố nước ngoài nên luật áp dụng cho loại hợp đồng này khá phức tạp. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán ngoại thương bao gồm: điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế, luật quốc gia và thậm chí cả án lệ (tin lệ pháp).

Đặc điểm về trình tự kí kết hợp đồng.

Trình tự kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương rất đa dạng, phong phú. Đối với hợp đồng mua bán ngoại thương nếu các bên gặp nhau trực tiếp để thoả thuận và kí kết sẽ tốn kém về tiền bạc và thời gian nhiều hơn so với trường hợp đàm phán kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước. Bởi vậy hình thức kí kết hợp đồng gián tiếp thường được sử dụng phổ biến hơn hình thức kí kết hợp đồng trực tiếp.

Hình thức gián tiếp được thông qua thư tín, fax, telex, đơn chào hàng, chấp nhận hàng, đơn đặt hàng… Chào hàng gồm: chào hàng bán và chào hàng mua. Như vậy một đơn chào hàng phải đảm bảo những tiêu chuẩn pháp lí nhất định theo quy định của pháp luật như điều kiện có hiệu lực của đơn chào hàng, nội dung của nó phải gồm các điều kiện chủ yếu của hợp đồng. Trong đơn chào hàng phải nêu rõ thời gian có hiệu lực và điều kiện huỷ bỏ đơn đặt hàng.

Điều 14 cisg quy định chào hàng phải được gửi đến đích danh cho một hoặc nhiều người với nội dung rõ ràng về tên hàng, số lượng, phẩm chất, quy cách và giá cả của hàng hoá.

Nguồn luật:

Điều ước quốc tế: là tất cả các văn bản đc kí kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điều chỉnh. Vd: cisg, hiệp định buôn bán hàng dệt may VN – EU, hiệp định thương mại việt mỹ,…

Tập quán thương mại quốc tế: các tập quán đc hình thành lâu đời trong các quan hệ thương mại quốc tế, khi đc các chủ thể kí kết hđ mua bán qte’ chấp nhận sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh đối với hợp đồng của họ và có hiệu lực bắt buộc đối với hợp đồng đó. Vd: incoterms

Luật quốc gia: là nguồn luật trong trường hợp: (1) các bên thỏa thuận trong hợp đồng về việc chọn luật của 1 bên mang quốc tịch để điều chỉnh; (2) khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng đc quy định trong các điều ước qte’ lquan xác định luật của 1 quốc gia đương nhiên áp dụng cho hợp đồng đó.

Phân biệt với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước:

  • Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng trong nước luôn là luật quốc gia
  • Ko có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới
  • Đồng tiền thanh toán thường là nội tệ

Hợp đồng mua bán hàng hóa theo điều kiện FOB là gì?

FOB = Free On Board = Giá giao hàng trên phương tiện vận chuyển
Theo Incoterms 2010, FOB (tên cảng giao hàng): Điều kiên này chỉ áp dụng với vận tải biển hoặc vận tải đường thủy nội địa. “Giao hàng trên tàu” có nghĩa là người bán giao hàng lên con tàu do người mua chỉ định tại cảng xếp hàng chỉ định

Theo điều kiện FOB người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình khi hàng qua lan can tàu mà người mua chỉ định ở cảng bốc hàng quy định vào ngày hoặc thời hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, rủi ro cũng được chuyển giao từ thời điểm này.

Quyền và nghĩa vụ của các bên như sau:

  • Người bán: làm thủ tục thông quan xuất khẩu và chịu mọi chi phí liên quan đến thủ tục thông quan xuất khẩu. Cho hàng lên tàu đã được chỉ định trong thời gian quy định
  • Người mua:Thông báo cho người bán về tên con tàu, địa điểm bốc hàng và thời gian giao hàng.

Trách nhiệm của người mua về vi phạm nghĩa vụ chỉ định tàu để nhận hàng theo HĐ.

Nếu người mua không thực hiện nghĩa vụ thông báo cho người bán về những chi tiết cần thiết cho việc giao hàng thì rủi ro về những mất mát và hư hỏng hàng hóa sẽ vẫn được chuyển từ người bán sang người mua kể từ ngày quy định hoặc ngày cuối cùng của thời hạn quy định cho việc giao hàng hóa với điều kiện là hàng hóa đã được cá biệt hóa theo hợp đồng.

Trường hợp bên mua không làm đúng nghĩa vụ của mình thì phải chịu hậu quả pháp lý gì?

Incoterms chỉ xác định thời điểm di chuyển rủi ro hàng hóa từ người mua đến người bán chứ không xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa, cũng như hậu quả của việc vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này thường được quy định trong các điều khoản khác của hợp đồng hoặc trong luật điều chỉnh hợp đồng. Do đó để xác định được hậu quả pháp lý mà bên mua phải chịu thì tùy thuộc vào các điều khoản trong hợp đồng cũng như tùy thuộc vào luật áp dụng.

Nếu luật áp dụng là LTM VN 2005 thì có các chế tài theo điều 292. Theo công ước Viên 1980 thì gồm có hủy hợp đồng, bồi thường thiệt hại và buộc thực hiện hợp đồng một cách thực sự.

Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo công ước viên.

Tiếp tục thực hiện hợp đồng thực sự

Khi một bên bi phạm một nghĩa vụ nào đó trong hợp đồng nhưng nếu bên bị vi phạm vẫn yêu cầu phải thực hiện đúng theo nghĩa vụ đó thì bên vi phạm phải tiếp thục thực hiện. đó là trường hợp:

Khi người bán chậm giap hàng: người mua có thể ra một thời hạn nhất định để người bán hoàn thành nghĩa vụ và người bán phải thuwcjhieenj nghĩa vụ giao hàng trong thời hạn này. Nếu ko chấp nhận thì người mua có thể hủy hợp đồng và bồi thường thiệt hại

Khi người bán hàng giao hàng thiếu số lương: người mua có quyền yêu cầu người bán giao hàng bổ sung cho đủ số lương

Khi người mua chậm thanh toán: bên vi phạm sẽ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với bên bị vi phạm; và bên mua còn phải trả them lãi suất cho số tiền chậm thanh toán

Người bán giao hàng không phù hợp hoặc không đúng theo quy định của hợp đồng: người bán phải giao hàng tốt thay thế hoặc người bán phải sửa chữa khuyết tật trừ khi việc sửa chữa là không hợp lý căn cứ vào tình tiết của sự việc( điều 46)

Trừ trường hợp người mua không nhận hàng: người bán yêu cầu người mua phải nhận hàng, nếu trong thời hạn do người bán ấn định mà người mua vẫn không nhận hàng người bán buộc phải hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại phát sinh điều 62

Bồi thường thiệt hại

Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại phats sinh cho bên bị vi phạm. thiệt hại bao gồm:

Tổn thất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu

Các thu nhập bị bỏ lỡ do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia

Theo điều 74 thì tiền thiệt hại ko thể cao hơn thiệt hại thực tế và những khoản đáng lẽ thu đc nhưng bị bỏ lỡ là những khoản mà bên bị vi phạm đã dự liệu đc hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào thời điểm ký hợp đồng

Trường hợp người bán không giao hàng hoặc người mua không nhận hàng đều dẫn đến hủy hợp đồng. thiệt hại do hủy hợp đồng đối với bên bị vi phạm được bên vi phạm bồi thường. một bên chỉ được bồi thường những thiệt hai thực tế phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia3. Hủy hợp đồng

Hủy hợp đồng là hình thức trách nhiệm pháp lý cao nhất được áp dụng khi có vi phạm hợp đồng. Bên bị vi phạm có thể hủy hợp đồng nếu hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia tạo thành mọt vi phạm nghiêm trọng ( khoản 1a ĐIỀU 49, Khoản 1a điều 64)

Vi phạm nghiêm trọng điều 25

Ngoài ra có thể hủy hợp đồng trong một số trường hợp ở trên đã nói. Bên bị vi phạm mất quyền hủy hợp đồng nếu họ ko làm điều theo quy định của công ước viên  (điều 49)

Người bán cũng mất quyền hủy hợp đồng khi người mua đã trả tiền mà chậm thực hiện các nghĩa vụ khác…( điều 63 khoản 2)

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165