Thứ Sáu (24/09/2021)

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng là gì? Thời điểm nào đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực?

Đề nghị giao kết hợp đồng là gì? Thời điểm nào đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực?

Đề nghị giao kết hợp đồng là gì?

Lời đề nghị giao kết hợp đồng là một sự mở đầu cho một giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là việc một bên bày tỏ ý muốn tham gia giao kết hợp đồng dân sự (bên đề nghị) với bên khác (bên được đề nghị). Theo quy định tại điều 386 bộ luật dân sự 2015 quy định

Điều 386. Đề nghị giao kết hợp đồng
1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
2. Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.

Xem thêm: Thời điểm giao kết hợp đồng

Thời điểm hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng

Pháp luật dân sự có quy định về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực là thời điểm phát sinh nghĩa vụ của bên đề nghị với bên được đề nghị. Kể từ thời điểm đó, bên đề nghị phải chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý, như: nội dung của lời đề nghị, không được giao kết hợp đồng với bên thứ ba nếu bên được đề nghị biết đến lời đề nghị và có thời hạn cho việc trả lời…. Tại Điều 388 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể:

Điều 388. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
1. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
2. Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.
Theo đó, thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được chia làm hai trường hợp:

Thứ nhất,  thời điểm  này là một khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định. Trong lời đề nghị được gửi đi cho bên được đề nghị, thì bên đề nghị đã ấn định rõ thời điểm đề nghị đó có hiệu lực. Đó có thể là thời điểm bên được để nghị nhận được đề nghị hoặc là thời điểm lời đề nghị được gửi đi. Trường hợp này thường có trong hình thức đề nghị giao kết hợp đồng bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện.

Thứ hai, nếu bên đề nghị không ấn định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Thời điểm này được xác định căn cứ theo khoản 2 Điều 388 Bộ luật dân sự 2015, đó là:
– Trường hợp, đề nghị giao kết hợp đồng được chuyển bằng công văn, giấy tờ qua đường bưu điện, thì thời điểm bên đề nghị nhận được đề nghị giao kết hợp đồng được xác định là thời điểm mà đề nghị được chuyển đến nơi cư trú nếu là cá nhân hoăc trụ sở nếu là pháp nhân.
– Trường hợp, đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị. Hiện nay, hầu hết các cá nhân, doanh nghiệp đều có những trang web riêng. Đây là hình thức được thực hiện thông qua giao dịch điện tử, mạng internet. Vậy nên, thời điểm lời đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực chính là thời điểm lời đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị.
– Trường hợp bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.

Ví dụ như: hai bên gặp mặt trao đổi trực tiếp hoặc qua điện thoại…. Thời điểm lời đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm bên được đề nghị biết được lời đề nghị của bên đề nghị. Việc xác định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm về đề nghị của bên đề nghị khi bên được đề nghị biết đến lời đề nghị.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

Gọi ngay