Chủ Nhật (19/09/2021)

Hứa thưởng là gì? Quy định về hứa thưởng

Hứa thưởng là một chế định pháp lý được pháp luật dân sự quy định và điều chỉnh, đây là một chế định đặc biệt vì thể hiện hành vi pháp lý đơn phương của một bên chủ thể. Do đó, bài viết này của AZLAW sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn quy định của pháp luật về vấn đề này.

Hứa thưởng là một chế định pháp lý đặc biệt có tính đơn phương, theo đó người hứa công khai đưa ra điều kiện, hạn mức của mình mà không phụ thuộc và các chủ thể khác. Đây cũng là một chế độ pháp lý được Bộ luật dân sự điều chỉnh và quy định.

Hứa thưởng là gì?

Quy định tại điều 570 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về hứa thưởng như sau:

Điều 570. Hứa thưởng
1. Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng.
2. Công việc được hứa thưởng phải cụ thể, có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Phân tích về hứa thưởng
– Hứa thưởng là hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện ý chí ban đầu của một bên chủ thể mà không có sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên như hợp đồng dân sự. Ý chí của bên hứa thưởng phải được thể hiện một cách công khai, chủ thể bên nhận thưởng có thể được xác định rõ ràng hoặc không. Khi chủ thể bên nhận thưởng không được xác định cụ thể thì một người nào thực hiện công việc sẽ được coi là chấp nhận đề nghị giao kết của bên hứa thưởng. Nghĩa vụ thực hiện công việc của bên được nhận thưởng trong quan hệ hứa thưởng không phải là nghĩa vụ bắt buộc, vậy nên người này có thể thực hiện nhưng cũng có thể không thực hiện và nếu không thực hiện thì sẽ không nhận được giải thưởng
– Công việc được hứa thưởng phải được xác định cụ thể, có thể thực hiện được không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Trường hợp công việc hứa thưởng không đáp ứng được những yêu cầu này thì giao dịch sẽ bị coi là vô hiệu, nếu gây ra thiệt hại cho người khác thì bên hứa thưởng và bên thực hiện công việc sẽ cùng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Đối với giao dịch dân sự có điều kiện thì được quy định tại điều 120 luật dân sự 2015.

Điều 120. Giao dịch dân sự có điều kiện
1. Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ.
2. Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

Nội dung trên được hiểu bao gồm các điều kiện sau:
– Có thỏa thuận về điều kiện phát sinh
– Giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ
– Có tác động của một trong hai bên trực tiếp, gián tiếp có thể xảy ra hoặc không xảy ra trong từng trường hợp.
– Các điều kiện đó dự liệu khả năng có thể xảy ra nhưng không chắc chắn xảy ra trong tương lai.

Có 2 cách hiểu trong trường hợp này:

Thứ 1, vì trong giao dịch có điều kiện các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ. Mà hứa thường là hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể đưa ra điều kiện mà không cần thỏa thuận với một chủ thể nào khác. Như vậy, hứa thưởng không thể là giao dịch dân sự có điều kiện được, bởi phải có thỏa thuận.

Thứ 2, Hành vi pháp lý đơn phương cũng là giao dịch dân sự, bên cạnh sự thể hiện là một hành vi pháp lý đơn phương và có tính công khai thì khi các chủ thể khác( không giới hạn chủ thể, có thể có 1 số điều kiện nhưng không chỉ ra 1 hay bắt buộc 1 số chủ thể nào) có thể thực hiện được các điều kiện về công việc đó thì cũng được xem như việc chấp nhận giao kết đối với chủ thể hứa thưởng. Vì vậy, hứa thưởng cũng được xem như một giao dịch dân sự có điều kiện.

Ví dụ: Ông A, thông báo cho toàn thể nhân viên trong công ty, tháng sau nếu ai có thể làm tăng doanh thu công ty lên 0,5 % thì hứa sẽ tặng cho 1 chiếc Iphone 7. Nếu có 1 nhân viên nào đó hay 1 nhóm nhân viên làm được thì ông A sẽ trả thưởng cho những người đó. Còn nếu không có 1 nhân viên nào có thể thực hiện được thì điều kiện phát sinh không có. Cách thức trả thưởng được quy định tại điều 572 bộ luật dân sự 2015.

Rút lại tuyên bố hứa thưởng

Quy định tại điều 571 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về việc rút lại tuyên bố hứa thưởng:

Điều 571. Rút lại tuyên bố hứa thưởng
Khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc thì người hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố.

Quy định này nhằm đảm bảo quyền tự do giao kết hợp đồng giữa các bên, bên hứa thưởng có thể rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng chỉ được chấp nhận khi:
– Rút lại tuyên bố hứa thưởng thực hiện khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc. Khi không có quy định về thời hạn bắt đầu thực hiện công việc, thì rút tuyên bố hứa thưởng được phải được thực hiện trước khi bên được nhận thưởng bắt đầu thực hiện công việc
– Việc rút tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố. Nếu vi phạm quy định này thì việc rút tuyên bố sẽ không có hiệu lực pháp luật và bên hứa thưởng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả thưởng hoặc bồi thường thiệt hại

Trả thưởng theo tuyên bố hứa thưởng theo quy định tại điều 573 Bộ luật dân sự 2015 được thực hiện như sau:

Điều 572. Trả thưởng
1. Trường hợp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng.
2. Khi một công việc được hứa thưởng do nhiều người cùng thực hiện nhưng mỗi người thực hiện độc lập với nhau thì người hoàn thành đầu tiên được nhận thưởng.
3. Trường hợp nhiều người cùng hoàn thành công việc được hứa thưởng vào cùng một thời điểm thì phần thưởng được chia đều cho những người đó.
4. Trường hợp nhiều người cùng cộng tác để thực hiện công việc được hứa thưởng do người hứa thưởng yêu cầu thì mỗi người được nhận một phần của phần thưởng tương ứng với phần đóng góp của mình.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

Gọi ngay