Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Năm, Tháng Mười Một 21

Phân biệt chế độ trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc

Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc là hai vấn đề chính mà người lao động quan tâm khi nghỉ việc. Một vài trường hợp vẫn bị nhầm lẫn khi so sánh hai vấn đề trên. Chúng tôi sẽ làm rõ về các quy định này để khách hàng tham khảo. Theo quy định của Bộ luật lao động 2013 số 10/2012/QH13 quy định:

Điều 48. Trợ cấp thôi việc
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trợ cấp mất việc quy định tại điều 49 Bộ luật lao động 2013

Điều 49. Trợ cấp mất việc làm
1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Xét về điều kiện hưởng với trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc

Trợ cấp thôi việc:

  • Do chấm dứt hợp đồng lao động vì nhiều lý do khác nhau (trừ sa thải) đa số là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp mà chủ sử dụng lao động không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
  • NLĐ đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
  • Người sử dụng lao động sẽ chi trả khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt quan hệ lao động theo Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9, 10 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012. Tức là những trường hợp người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên mà chấm dứt hợp đồng lao động do hết thời hạn hợp đồng;  công việc theo hợp đồng đã thực hiện xong; hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Thì trường hợp này người lao động sẽ được chi trả trợ cấp thôi việc. Sở dĩ Bộ luật lao động lại quy định vấn đề này là có tính đến sự đóng góp của người lao động trong quá trình làm việc tại công ty.

Trợ cấp mất việc:

  • Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế làm ảnh hưởng đến việc làm của NLĐ.
  • Sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã.
  • NLĐ đã làm việc thường xuyên cho NSDLĐ từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm trong các trường hợp trên, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.
  • Khác với trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là khoản trợ cấp mà người sử dụng lao động trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên trong trường hợp người sử dụng lao động có sự thay đổi về cơ cấu, công nghệ hay vì lý do kinh tế hoặc sát nhập, hợp vốn, chia tách doanh nghiệp, không thể giải quyết việc làm mới cho người lao động. Như vậy những trường hợp trả trợ cấp mất việc làm thường là những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do các yếu tố bên ngoài tác động tới.

Về thời gian tính trợ cấp và mức tính trợ cấp

  • Tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia BHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc.
  • Tiền lương bình quân theo HĐLĐ của 06 tháng liền kề trước khi NLĐ thôi việc/mất việc làm.

Mức trợ cấp thôi việc, mất việc và thời hạn nhận trợ cấp

Trợ cấp thôi việc: Khi trả trợ cấp thôi việc chủ sử dụng lao động trả cho người lao động mỗi năm làm việc là một nửa tháng tiền lương. Tháng tiền lương được coi làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc là tháng tiền lương của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Chủ sử dụng lao động phải thực hiện chi trả khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động.

Trợ cấp mất việc làm: Mức trợ cấp mất việc làm mà người chủ sử dụng lao động phải chi trả cho người lao động sẽ là: mỗi năm làm việc được trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. Nếu xét về mức chi trả ta thấy rằng mức chi trả trợ cấp thôi mất việc làm cao gấp đôi mức chi trả trợ cấp thôi việc và Bộ luật lao động năm 2012 cũng giới hạn mức trợ cấp chi trả thấp nhất mà người lao động được hưởng. Sở dĩ có sự khác biệt như trên là vì trợ cấp mất việc làm chi trả cho người lao động trong những trường hợp họ bị mất việc làm do yếu tố khách quan và người lao động không thể chủ động trong việc tìm kiếm việc làm. Do đó mức hộ trợ như vậy sẽ phần nào giúp người lao động ổn định cuộc sống trong khi tìm kiếm việc làm mới.

Cũng giống như trợ cấp thôi việc, người sử dụng lao động cũng phải trả trợ cấp mất việ làm trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Về điều kiện áp dụng trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc

Có lẽ không ít người nhầm lẫn về khái niệm “nghỉ việc vì lý do kinh tế” trong Bộ luật lao động năm 2013. Tuy nhiên đây thật sự là sự sai lầm của các nhà làm luật khi mà vừa quy định điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc đều có vấn đề này. Tuy nhiên đến khi nghị định 05/2015/NĐ-CP ra đời thì vấn đề này đã được làm rõ ở khoản 2 điều 14 của nghị định này như sau:

Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại Khoản 10 Điều 36, Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Lao động.

Hy vọng những so sánh trên có thể giúp ích cho các bạn khi không tiếp tục làm việc. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ tổng đài luật sư tư vấn pháp luật 1900.6165 để được tư vấn giải đáp.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165