Thứ Bảy (20/07/2024)

Ly hôn khi bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài

Mẹo nhỏ: Tham gia nhóm hỗ trợ AZLAW để được cùng nhau hỏi đáp và hỗ trợ các vấn đề liên quan trên Facebook tại đây hoặc Zalo tại đây

Yêu cầu ly hôn trong trường hợp hai bên là người Việt Nam và một bên cư trú tại nước ngoài như thế nào?

Trong một số trường hợp ly hôn giữa hai bên là người Việt Nam nhưng một trong hai bên đi xuất khẩu lao động và không liên hệ được thì phải xử lý như thế nào? Trên thực tế xét xử, toà án đã có công văn 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ như sau:

Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về vướng mắc trong việc giải quyết một số vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là người Việt Nam ở trong nước với bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
Vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài là một trường hợp đặc thù; quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy, trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài, nếu thông qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ để xác định họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Tòa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử, Tòa án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.
Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án nhân dân nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.

Mẫu đơn khởi kiện ly hôn khi chồng xuất khẩu lao động

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN KHỞI KIỆN
Kính gửi: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Người khởi kiện: NGUYỄN THỊ B Sinh ngày: …/…/1997
Hộ chiếu số: … do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 27/02/2019.
CCCD số … do Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 15/09/2023.
Địa chỉ thường trú: …, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Chỗ ở hiện tại: … SINGAPORE 574044.
Địa chỉ nhận trả lời văn bản tố tụng: …, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Điện thoại liên lạc: …
Người bị kiện: NGUYỄN VĂN T Sinh ngày: 12/04/1990

Địa chỉ cuối cùng trước khi xuất cảnh: …, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Chỗ ở hiện tại: Đang xuất khẩu lao động tại Singapore. Địa chỉ cụ thể ở đâu tôi không được biết rõ vì anh T cố tình giấu địa chỉ.
Điện thoại liên hệ: Không có
Người có quyền, lợi ích được bảo vệ: Không có
Người có quyền lợi, nghĩa vụ luên quan: Không có
Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

1. Về quan hệ hôn nhân:
Năm 2014, tôi và anh T quen biết nhau tại Thái Lan do cùng là đồng hương chúng tôi tìm hiểu nhau được một thời gian và phát sinh tình cảm. Ngày 10/12/2015, chúng tôi tới UBND xã …, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 – Quyển số 01 trên tinh thần tự nguyện và được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới theo phong tục của người Việt Nam.
Sau khi kết hôn, tôi về chung sống cùng anh T và bố mẹ chồng tại địa chỉ …, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Trong quá trình sống chung chúng tôi có những mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xích mích ngoài ra thi thoảng anh T có uống rượu và đánh đập tôi khiếu tôi cảm thấy ám ảnh mỗi khi nhớ lại nhưng vì các con tôi đã nhẫn nhịn cho gia đình êm ấm. Năm 2018, anh T xuất khẩu lao động tại Singapore chúng tôi vẫn liên lạc với nhau qua điện thoại. Năm 2020, tôi cũng đi xuất khẩu lao động tại Singapore. Tôi và anh T không làm chung công ty nên chúng tôi không sống chung và cũng không biết địa chỉ cư trú cụ thể của anh T tại Singapore. Thời gian đầu khi mới sang Singapore, chúng tôi vẫn thi thoảng gọi điện thoại nói chuyện và anh T cũng có qua chỗ tôi ở mỗi khi rảnh nhưng khi ở gần nhau chúng tôi có xảy ra những mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Đến giữa năm 2022, mâu thuẫn của chúng tôi xảy ra đỉnh điểm do vợ chồng không cùng tiếng nói chung, không tôn trọng lẫn nhau, xích mích về vấn đề tiền bạc nên hay xảy ra cãi vã. Sau đó anh T cũng không còn qua thăm tôi nữa, chúng tôi cũng không còn nói chuyện với nhau. Từ đó đến nay, tôi đã suy nghĩ rất nhiều có nên tiếp tục mối quan hệ này nữa hay không nhưng tôi nhận ra rằng tình cảm của tôi dành cho anh T không còn và anh T cũng không có động thái nào thể hiện sự ăn năn và muốn hàn gắn mối quan hệ này. Đầu năm 2024, tôi đã chủ động liên lạc với anh T để yêu cầu ly hôn nhưng anh T không hợp tác, không cung cấp giấy tờ, thông tin nơi cư trú của anh T cho tôi thậm chí còn chửi mắng tôi.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do mục đích hôn nhân không đạt được, cách sống của hai bên không hợp nhau. Cuộc sống hôn nhân thường phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa và chúng tôi mỗi người ở một nơi nên tình cảm vợ chồng cũng lạnh nhạt không còn như trước.

Nhận thấy, tình cảm giữa tôi và anh T không còn, mục đích hôn nhân của chúng tôi không đạt được. Vậy tôi kính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xem xét giải quyết cho tôi được xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T để mỗi bên có cuộc sống riêng cho mình.

2. Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn GB, sinh ngày 25/08/2015 và cháu Nguyễn Thị GL, sinh ngày 02/07/2017.
– Hiện tại, các cháu đang ở cùng với ông bà ngoại (bố mẹ đẻ của tôi) tại địa chỉ: …, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Về quyền nuôi con: Do các cháu đã lớn nên tôi tôn trọng quyết định của cháu. Xét về nguyện vọng của tôi, tôi xin được nuôi cháu Nguyễn Thị GL vì cháu ở với tôi từ nhỏ và sau này cháu lớn cần được mẹ chia sẻ và chỉ bảo thêm nhiều về tâm lý của nữ giới còn cháu GB sống với bên nội nhiều nên tôi sẽ nhường quyền nuôi cháu cho bố và bên nội nuôi. Nếu được Tòa án chấp thuận thì tôi sẽ ủy quyền cho bố mẹ đẻ của tôi là ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị L – Địa chỉ: …, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trông nom, nuôi dưỡng cháu cho đến khi tôi trở về Việt Nam. Mong Quý Tòa xem xét nguyện vọng trên của tôi.
Về trợ cấp cho con: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và công sức đóng góp: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về công nợ chung: Chúng tôi không có công nợ chung nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện tại tôi không biết địa chỉ cụ thể của anh T tại Singapore mà chỉ biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc về cho mẹ chồng tôi là bà Phạm Thị H và các con để hỏi thăm tình hình sức khỏe (do tôi có hỏi mẹ chồng “anh T có thường xuyên liên lạc về với gia đình hay không thì bà xác nhận là vẫn còn liên lạc”) Vậy cho nên kính đề nghị Quý Tòa án dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 thông qua thân nhân của bị đơn ở Việt Nam để giải quyết hồ sơ xin ly hôn của tôi theo quy định của pháp luật.
Kính mong Quý tòa xem xét giải quyết cho yêu cầu ly hôn của tôi để tôi sớm ổn định cuộc sống riêng của mình!

Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm có:
– Đăng ký kết hôn (01 bản sao);
– Hộ chiếu của tôi (01 bản sao);
– Giấy khai sinh của các con (02 bản sao);
– Các loại giấy tờ có liên quan khác.

Singapore, ngày ….tháng …… năm 2024
Người khởi kiện

Tại nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP mới đây đã có hướng dẫn về việc ly hôn khi bị đơn ở nước ngoài không rõ địa chỉ như sau:

Điều 10. Giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ
Trong vụ án ly hôn, người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thì Tòa án giải quyết như sau:
1. Trường hợp qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân thích ở trong nước nhưng người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.
Trường hợp Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
2. Sau khi xét xử, Tòa án gửi cho người thân thích của bị đơn bản sao bản án, quyết định để họ chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn và nơi người thân thích của bị đơn cư trú để đương sự có thể thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

Liên hệ để được hỗ trợ

Bài viết liên quan