Liên hệ tư vấn 1900.6165
Chủ Nhật, Tháng Chín 23

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm quyền sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội thường sử dụng thủ đoạn gian dối làm cho người bị hại tưởng là thật tự nguyện đưa tài sản cho bên kia.

Tội lừa đảo được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 ghi nhận:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện dựa trên căn cứ sau:

– Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 trở lên. Hành vi gian dối được người phạm tội sử dụng trước làm cho người bị hại tưởng là thật sau đó giao tài sản cho người phạm tội rồi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt đối với tài sản đó. Đây là điểm khác biệt giữa tội lợi dụng sự tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùy thuộc vào thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi gian dối trước hay việc chiếm đoạt tài sản trước để cơ quan tố tụng tiến hành xử lý đối với người phạm tội.

– Nếu giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng và thuộc một trong các trường hợp:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm
  • Đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội xâm phạm quyền sở hữu:tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đây là điểm mới của Bộ luật hình sự 2015, việc ghi nhận tình tiết này cho thấy việc ghi nhận đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như hậu quả phi vật chất do hành vi phạm tội gây nên. Tuy nhiên hiện nay chưa có quy định nào hướng dẫn cụ thể về tình tiết này mà đây là tình tiết, hậu quả mang tính phi vật chất do vậy việc đánh giá, áp dụng dễ mang tính tùy nghi, phụ thuộc vào nhận thức của các cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như phụ thuộc vào đặc trưng, điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng miền, địa phương khác nhau.
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ. Quy định này đã cụ thể hóa trong một số trường hợp xảy ra trên thực tế khi định giá tài sản bị thiệt hại là rất thấp nhưng đó là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại, điều này khắc phục việc bỏ sót các trường hợp phạm tội so với Bộ luật hình sự 1999.

Như vậy, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với một cá nhân khi có các dấu hiệu như trên.

Hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bộ luật hình sự 2015 có quy định nhiều khung hình phạt khác nhau đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi quyết định áp dụng khung hình phạt, cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đưa ra hình phạt phù hợp. Hình phạt đối với tội này bao gồm: phạt tù có thời hạn hoặc chung thân, phạt cải tạo không giam giam giữ tới 3 năm tùy thuộc vào mức độ vi phạm của người phạm tội. Ngoài ra người phạm tội có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Dấu hiệu nhận biết

– Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

– Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin không đúng sự thật, làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.  Thông tin giả như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn máy tính nhưng sau khi lấy được máy tính liền đi bán, không chịu trả cho chủ sở hữu nữa) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

– Hành vi gian dối có quan hệ nhân quả với sự chuyển dịch về mặt tài sản từ chủ sở hữu sang kẻ phạm tội. Vì có hành vi gian dối mới lừa dối được người sở hữu tài sản chuyển giao, đây là dấu hiệu rất quan trọng để định tội danh.
Có những thủ đoạn gian dối khác, như thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Bộ luật Hình sự năm 2009 sửa đổi Bộ luật hình sự 1999 đã quy định lại khoản tiền  lừa đảo mà người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện, đó là từ năm trăm nghìn chuyển sang hai triệu đồng. Dấu hiệu này để xem xét người thực hiện hành vi có bị xem là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự không.Giá trị tài sản là dấu hiệu cơ bản của tội này.

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan