Liên hệ tư vấn 1900.6165
Thứ Sáu (10/04/2020)

Chia thừa kế khi hết thời hiệu khởi kiện

Kính gửi luật sư! Nhờ luật sư tư vấn giúp em trường hợp sau: Bà ngoại em mất ngày 03/4/1999 không có để lại di chúc. Ngoại có 2 người con là cậu và mẹ em. Năm 2007 cậu đã xin hợp thức hóa toàn bộ phần đất ngoại em để lại mà mẹ em thì lấy chồng, đã cắt hộ khẩu và chuyển về sinh sống tại Q6-TPHCM nên không hay biết được chuyện này. Rồi trước lúc mất cậu có làm 01 tờ giấy viết tay (được UBND xã xác nhận chữ ký là đúng) về việc cậu mợ tự nguyện ưng thuận chia đôi đất cho mẹ em trên phần đất bà ngoại để lại, không có sự ép buộc nào. Cậu mất vào tháng 10/2007, Vì tin tưởng và cũng vì nghĩ đã có lời hứa cũng như tờ giấy đó nên khi nào cần thì sẽ tách ra thôi. Nay mẹ em liên hệ mợ và các con của cậu để cùng ra xã làm thủ tục tách chia đôi đất, thì mợ và các con của cậu không đồng ý và tuyên bố là đất đó do ngoại em để lại cho 01 mình cậu em, cậu mất rồi thì mợ và các con được toàn quyền hưởng, chứ mẹ em không có quyền gì đòi chia. Mong luật sư tư vấn giúp:

1. Giờ em muốn đòi chia tài sản chung (Vì đã quá hiệu lực để chia tài sản thừa kế) để giành quyền lợi cho mẹ em thì trình tự các bước phải làm thế nào?

2. Việc cậu em xin hợp thức hóa mà ngày xưa UBND xã, huyện cấp như vậy có đúng pháp luật hay không? Trong khi hàng thừa kế thứ nhất là mẹ em vẫn còn sống mà không được thông tin hay có sự đồng ý?

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho AZLAW chúng tôi, câu hỏi của bạn sẽ được luật sư tư vấn một số vấn đề như sau:

1. Vấn đề chia tài sản chung
Căn cứ theo Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 quy định về các trường hợp thừa kế theo pháp luật, như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Khi ngoại của bạn mất không để lại di chúc, theo đó khi chia di sản thừa kế trong trường hợp này thì được chia thừa kế theo pháp luật. Vậy nên, cả cậu bạn và mẹ bạn đều được hưởng thừa kế theo pháp luật. Căn cứ Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 về thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Mặt khác, theo quy định tại Mục 2.4,  Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong một số việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có quy định về các trường hợp không áp dụng thời hiệu  khởi kiện về thừa kế, :

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:
a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.
a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.
a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.
b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền… thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Trước khi cậu của bạn mất đã làm  01 tờ giấy viết tay (được UBND xã xác nhận chữ ký là đúng) về việc cậu mợ tự nguyện ưng thuận chia đôi đất cho mẹ bạn trên phần đất bà ngoại để lại, không có sự ép buộc nào. Tờ giấy này có ý nghĩa thừa nhận cậu bạn và mẹ bạn là những đồng thừa kế đối với tài sản ngoại của bạn để lại và không có tranh chấp nào. Vì vậy, căn cứ theo điều khoản trên, mẹ của bạn có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế đó theo pháp luật. Việc chia di sản này các bên có thể thỏa thuận với nhau hoặc mẹ bạn có thể khởi kiện phân chia di sản thừa kế yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản thừa kế chưa được chia đúng hay sai?

Năm 2007, cậu của bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất là di sản thừa kế ngoại bạn để lại là thời điểm Luật đất đai năm 2003 vẫn còn hiệu lực pháp lý. Căn cứ Điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định về điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân như sau:

Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.
7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
8. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.

Như vậy, khi cậu của bạn có yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phải xem xét về điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND xã xác nhận đất đó không có tranh chấp. Trong trường hợp này, đất thuộc quyền sở hữu của bà ngoại bạn và không có di chúc hay giấy tờ hợp pháp nào về quyền thừa kế đất đó, mà cơ quan có thẩm quyền vẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cậu của bạn là thiếu cơ sở, không đúng với quy định của pháp luật. Mẹ của bạn có thể khởi kiện cơ quan hành chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật cho cậu của bạn theo thủ tục tố tụng hành chính để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ bạn

Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6165 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác!

Bài viết liên quan

HOTLINE: 19006165